Năm 2026 được chọn là Năm Hợp tác khoa học và giáo dục giữa Việt Nam - Liên bang Nga. Đây cũng là thời điểm Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Nhân dịp này, phóng viên Ban Đối ngoại, Đài Tiếng nói Việt Nam, đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Ủy ban Hợp tác về khoa học, công nghệ và giáo dục Việt Nam – Liên bang Nga, về những thành tựu hợp tác giữa hai nước, các lĩnh vực công nghệ có tiềm năng đột phá cũng như những định hướng nhằm đưa hợp tác khoa học – công nghệ Việt Nam – Liên bang Nga phát triển hiệu quả và thực chất hơn trong thời gian tới.
PV: Trân trọng cảm ơn ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ KH&CN đã nhận lời phỏng vấn của phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của hợp tác khoa học - công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia?
Thứ trưởng Lê Xuân Định: Việt Nam và Liên bang Nga có truyền thống hợp tác lâu đời trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Trong nhiều thập kỷ, Liên Xô trước đây và Liên bang Nga đã hỗ trợ Việt Nam đào tạo hàng chục nghìn cán bộ khoa học, kỹ sư, chuyên gia; đồng thời hợp tác xây dựng nhiều cơ sở nghiên cứu và triển khai các chương trình trong các lĩnh vực như năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới, dầu khí, y tế và hàng không vũ trụ.
Trong bối cảnh Việt Nam triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hợp tác khoa học và công nghệ với Liên bang Nga càng có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để phát triển đất nước. Nga có thế mạnh về khoa học cơ bản và nhiều công nghệ chiến lược, như năng lượng nguyên tử, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ lượng tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học và hàng không vũ trụ. Đây là những lĩnh vực công nghệ chiến lược mà Việt Nam xác định cần phải phát triển, làm chủ và tự chủ trong thời gian tới.
Sự hợp tác này đã mang lại tính bổ trợ và có nhiều tiềm năng cho hai nền kinh tế.
Khóa họp lần thứ 6 Ủy ban hợp tác về giáo dục, khoa học và công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga cuối năm 2025 đã thống nhất nhiều định hướng hợp tác mới. Đặc biệt, lãnh đạo hai nước đã lựa chọn năm 2026 là Năm Giao lưu khoa học và giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga, tạo cơ hội thúc đẩy các chương trình nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực, kết nối viện, trường, doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ đi vào chiều sâu, mang lại những kết quả thiết thực và lâu dài.
Tôi tin rằng hợp tác khoa học và công nghệ với Liên bang Nga sẽ tiếp tục phát huy giá trị truyền thống, đồng thời đóng góp thiết thực vào việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW, từng bước nâng cao năng lực tự chủ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
PV: Theo ông, đâu là những lĩnh vực hợp tác khoa học - công nghệ có tiềm năng đột phá nhất giữa hai nước trong thời gian tới?
Thứ trưởng Lê Xuân Định: Trước tiên, các lĩnh vực hợp tác truyền thống đã mang lại nhiều kết quả tích cực, như khoa học biển, năng lượng, vật liệu và công nghệ nano, nông nghiệp công nghệ cao, tự động hóa, công nghệ thông tin và khoa học xã hội - nhân văn. Hai bên đã cùng triển khai gần 20 nhiệm vụ nghiên cứu chung, tạo nền tảng thuận lợi để tiếp tục mở rộng hợp tác trong giai đoạn mới.
Trong hợp tác, hai nước cần ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam và thế mạnh của Nga, như vi điện tử và công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và công nghệ số, công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến, quang tử, công nghệ sinh học, cũng như công nghệ vũ trụ và quan trắc Trái đất.
Một trụ cột đặc biệt quan trọng là hợp tác trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình. Hai bên không chỉ có bề dày hợp tác mà còn đang triển khai Dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại tỉnh Đồng Nai. Chúng tôi kỳ vọng Trung tâm sẽ trở thành cơ sở nghiên cứu hiện đại, phục vụ nghiên cứu, đào tạo nhân lực và mở rộng các ứng dụng công nghệ hạt nhân trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và bảo vệ môi trường.
Khi hợp tác gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và xã hội, hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước sẽ tạo ra giá trị thiết thực và bền vững hơn, tăng cường vai trò, sự tham gia hiệu quả của doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội.
PV: Hai nước sẽ triển khai những cơ chế nào để thúc đẩy hiệu quả hơn việc chuyển giao công nghệ và các dự án nghiên cứu chung?
Thứ trưởng Lê Xuân Định: Việt Nam và Liên bang Nga đã xây dựng được hệ thống cơ chế hợp tác khá toàn diện, linh hoạt và mở theo sự phát triển của khoa học và công nghệ, từ Ủy ban hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, các chương trình nghiên cứu theo Nghị định thư đến mạng lưới hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để hai bên tiếp tục mở rộng hợp tác trong giai đoạn mới.
Tháng 6 vừa qua, nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN – Nga, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã làm việc với Lãnh đạo Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga. Hai bên thống nhất từ năm 2027 sẽ mở rộng hợp tác trong bốn lĩnh vực ưu tiên, gồm công nghệ vũ trụ, vệ tinh tầm thấp, công nghệ lượng tử và trí tuệ nhân tạo. Đây đều là những lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ của cả hai nước.
Để nâng cao hiệu quả hợp tác trong thời gian tới, theo tôi cần tập trung vào một số giải pháp.
Trước hết, tiếp tục phát huy vai trò của Ủy ban hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga về giáo dục, khoa học và công nghệ theo hướng thực chất cụ thể hơn.
Thứ hai, nâng cao chất lượng các chương trình tuyển chọn và đồng tài trợ nhiệm vụ nghiên cứu chung; đồng thời thúc đẩy xây dựng phòng thí nghiệm chung, trung tâm nghiên cứu chung và các nhóm nghiên cứu hỗn hợp.
Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao qua hợp tác nghiên cứu để các cơ sở hợp tác, như Trung tâm có thể phát huy hiệu quả ngay khi đi vào hoạt động.
Thứ tư, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ giai đoạn đề xuất và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, qua đó rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Các chương trình hợp tác cần khuyến khích mô hình liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và đặc biệt với doanh nghiệp.
PV: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh của mỗi bên, đồng thời mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Những chương trình hợp tác được triển khai trong Năm Hợp tác Khoa học và Giáo dục Việt Nam – Liên bang Nga 2026 sẽ góp phần đưa các thành tựu khoa học vào thực tiễn, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của hai nước.
