Nghe âm thanh tại đây:
Trong làng thơ đương đại, Lý Hữu Lương là một cây bút có giọng điệu riêng. Thơ anh tựa vào bản sắc văn hóa dân tộc Dao. Bên cạnh những sáng tác giàu hình tượng, ngẫm nghĩ về cội nguồn, Lý Hữu Lương viết về những hình ảnh quen thuộc gắn bó với tuổi thơ nơi bản làng. Nhà thơ Lý Hữu Lương sinh năm 1988 tại bản Khe Rộng, huyện Trấn Yên – Yên Bái cũ, nay thuộc xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chính trị Bắc Ninh, anh về công tác tại Quân khu 2. Vừa công tác vừa đam mê sáng tác, Lý Hữu Lương trở thành hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 2014 đến nay, anh là Biên tập viên thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trước khi xuất bản tập thơ “Yao” và được trao giải thưởng Tác giả trẻ (lần thứ nhất, 2021) của Hội Nhà văn Việt Nam, Lý Hữu Lương đã phát hành tập thơ “Người đàn bà cõng trăng trên đỉnh Cô San”, tập trường ca “Bình nguyên đỏ”, tập bút ký “Người biển lặng”.
PV: Thưa nhà thơ Lý Hữu Lương, quê hương và nguồn cội dường như là mạch cảm hứng xuyên suốt trong sáng tác của anh. Có thể nói phần lớn các tác phẩm của anh đều xoay quanh đề tài này?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Tôi nghĩ rằng mỗi tác giả, mỗi người làm thơ đều có một tọa độ sáng tác để khẳng định bản thân. Tôi là người Dao. Trong tâm thức, tôi luôn tự hỏi rằng nếu mình không viết về người Dao, không viết về quê hương, bản quán của mình thì thực sự tôi cũng không biết sẽ viết về ai và viết như thế nào. Đó giống như một mạch nguồn chảy trong tâm thức, hình thành nên tư duy sáng tạo và luôn dẫn dắt tôi hướng về chủ đề ấy.
PV: Tôi đã đọc cả ba tác phẩm của anh được Hội thơ Làng Chùa - Cuộc thi Thơ ca và Nguồn cội trao giải Nhất. Trong đó, tôi đều cảm nhận được tình yêu quê hương và nguồn cội rất đậm nét. Vậy trong ba bài thơ ấy, có bài nào được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt hoặc từ một nguồn cảm xúc khiến anh nhớ nhất?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Nếu phải chọn một bài thơ mà tôi dành nhiều tâm sức nhất, có lẽ đó là bài “Ngày mẹ sinh tôi”. Bài thơ xuất phát từ chính tâm thức viết về nguồn cội quê hương. Có một thời điểm, tôi bất chợt nghĩ rằng: tại sao mình không viết về quê hương từ chính cuống rốn, từ bọc rốn của mình? Ý nghĩ ấy xuất hiện rất tự nhiên và tôi bắt đầu viết “Ngày mẹ sinh tôi” với câu mở đầu khá đặc biệt: “Tôi vẫn nhớ ngày mẹ sinh tôi”. Theo tôi, đó là một cảm thức về địa dư văn hóa. Câu chuyện về ngày mình chào đời được truyền lại qua cha mẹ, ông bà, anh em, làng xóm. Những câu chuyện ấy tác động vào tôi và hình thành nên một phản ứng rất tự nhiên. Tôi muốn nhập thân để kể lại câu chuyện ngày mình sinh ra. Đó là một cảm thức thiêng liêng. Từ cuống rốn, bọc rốn, bài thơ dẫn về mạch nguồn, về nhu cầu được ghi nhận và được trở về với quê hương, bản quán của chính mình.
PV: Nhà thơ Lý Hữu Lương có thể đọc tặng thính giả bài thơ mà anh tâm đắc nhất, cũng là tác phẩm thể hiện rõ bản sắc và tình yêu nguồn cội của mình – bài thơ “Ngày mẹ sinh tôi”?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Vâng tôi xin trân trọng gửi đến quý thính giả của Đài bài thơ “Ngày mẹ sinh tôi”. Tôi vẫn nhớ ngày mẹ sinh tôi
Cha ôm bọc rốn vào sâu thung núi.Chiều ấy mưa nắng giao long. Chiều ấy Bàn Mai cao văn vắt. Tôi thiêm thiếp đợi bà cất tiếng hát. Một lời hát ly hương. Xập xè ánh đom đóm. Xập xè ánh đuốc tàn…Tôi nhớ những khuôn mặt sáng bừng. Của ông tôi và nhiều người nữa. Xồng xộc mùi thịt chuột nướng. Xồng xộc mùi rượu sắn trong chum. Tôi không thể nào chép nguyên văn. Những lời hát đêm đó… Ơi Dương Châu, Dương Châu. Khách đến đầu hồi vừa cất tiếng. Khách đến trước cửa vừa tháo giày. Con ơi lớn nhanh trói gà đãi khách… Tôi là một đứa trẻ. Còn nguyên cuống rốn. Đi đâu cũng ôm bọc rốn của mình. Tìm đường về quê hương. Chôn ở gốc cây muỗm núi Bàn Mai…
PV: Như chúng ta đã biết, văn học của các tác giả dân tộc thiểu số đã có nhiều gương mặt ghi dấu ấn trong dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. Hiện nay, các cây bút dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục miệt mài sáng tác và để lại dấu ấn riêng, trong đó có những tác giả được vinh danh tại Cuộc thi Thơ ca và Nguồn cội. Anh nhìn nhận như thế nào về điều này?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Văn học nghệ thuật hiện đại ghi nhận sự đóng góp của nhiều văn nghệ sĩ là người dân tộc thiểu số với những tên tuổi lớn như Y Phương, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Bàn Tài Đoàn hay Pờ Sảo Mìn. Các tác giả đi trước đã mang quê hương của mình ra đối thoại với trung tâm. Đó là con đường mà các thế hệ tiền bối đã mở ra. Với tâm thế của một người trẻ, tôi luôn cố gắng kế thừa và tiếp bước các thế hệ ấy; vừa mang tiếng nói của bản làng, của dân tộc mình đến với một cộng đồng rộng lớn hơn, vừa góp phần khẳng định và lan tỏa những giá trị tư tưởng, vẻ đẹp văn hóa, bản sắc của các tộc người. Tôi cũng muốn góp phần lý giải cách các cộng đồng ấy tồn tại, chung sống bình đẳng với thiên nhiên, với các dân tộc khác, và duy trì huyết thống, bản sắc của mình qua hàng nghìn năm lịch sử để tìm thấy lý do tồn tại của chính họ.
PV: Thưa nhà thơ Lý Hữu Lương, phía trước các anh là những tên tuổi lớn của văn học dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh đời sống hôm nay có nhiều biến đổi, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, cách nhìn của người trẻ về tổ tiên, nguồn cội cũng có những thay đổi nhất định. Vậy anh và những người viết trẻ đã tìm cho mình lối đi riêng như thế nào trong quá trình sáng tác cũng như trong hành trình khám phá, gìn giữ và đưa các giá trị văn hóa truyền thống vào văn chương?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Tôi nghĩ rằng những người trẻ như chúng tôi không có lý do gì để thiếu tự tin khi xuất phát từ một bản làng nhỏ hay một không gian văn hóa hẹp hơn để bước vào một thế giới rộng lớn. Điều quan trọng là mang theo tiếng nói và những đặc trưng riêng có của mình để hòa nhập với cộng đồng lớn hơn. Tôi chỉ mong rằng chúng ta viết từ tâm thế của một người con trân trọng bản làng và quê hương mình, chứ không phải cố gắng minh họa dân tộc hay gán ghép phong tục, tập quán vào tác phẩm chỉ để người khác nhận ra đó là văn hóa dân tộc.
PV: Anh là một người Dao đã sống ở phố hơn 10 năm. Khi nhìn lại những bài thơ được viết trong môi trường đô thị, anh thấy suy nghĩ và cách sáng tác của mình đã thay đổi như thế nào?
Nhà thơ Lý Hữu Lương: Việc thay đổi môi trường sống, từ bản làng lên đô thị, đối với một người mang căn cước văn hóa rõ nét như tôi vừa mang lại những giá trị tích cực, vừa khiến một số điều dần phai nhạt. Ở khía cạnh tích cực, khi được học tập và công tác tại Thủ đô, tôi có điều kiện mở rộng tầm nhìn, tiếp nhận nhiều điều mới mẻ, cập nhật hơn với đời sống hiện đại. Tuy nhiên, thời gian được sống trong không gian bản làng, tình cảm anh em làng xóm hay các nghi lễ truyền thống cũng ít đi. Điều đó khiến tôi có thêm cảm thức hoài niệm. Mà thơ ca, theo tôi, luôn cần một độ hoài niệm nhất định để tái hiện không gian văn hóa ấy. Mặt khác, khi ít tiếp xúc với các nghi lễ truyền thống, bề dày văn hóa trong mỗi người cũng có thể bị mai một ít nhiều. Con người rất dễ rơi vào trạng thái lãng quên. Ngược lại, việc sống trong một môi trường năng động, giàu hơi thở thời đại cũng giúp thơ của tôi không trở nên lạc hậu. Tôi có thể xác định mình đang ở đâu, cần viết gì và viết như thế nào để tiếp cận độc giả tốt hơn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để tôi tiếp cận nhiều nguồn tri thức mới, từ đó đưa thơ đến gần hơn với những vấn đề của thời đại như di cư, di dân, mất bản sắc hay sự đồng hóa văn hóa dân tộc.
PV: Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ Lý Hữu Lương !
