Nghe âm thanh tại đây:
Từ năm 1934 đến năm 1954 là giai đoạn bản lề hình thành và phát triển của tân nhạc Việt Nam. Lúc đó, Hà Nội giữ vai trò trung tâm với sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ tên tuổi và những ca khúc sống mãi với thời gian. Nhìn lại chặng đường này, trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ hai năm 2026, Bảo tàng Hà Nội vừa khai mạc chương trình trưng bày và tọa đàm mang tên “Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934 – 1954)”. Hơn 100 bản nhạc gốc cùng nhiều tư liệu, hình ảnh quý giá được giới thiệu đưa công chúng trở về với một thời kỳ âm nhạc đặc biệt của Thủ đô.
Trưng bày “Hướng về thành phố xa xưa” do Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội phối hợp với Bảo tàng Hà Nội tổ chức đã tái hiện một cách có hệ thống giai đoạn lịch sử đặc biệt của 20 năm tân nhạc Việt Nam hình thành và phát triển từ 1934 - 1954. Với 102 bản nhạc gốc được chọn lọc công phu từ bộ sưu tập tư nhân khoảng 2.000 tờ nhạc, không gian trưng bày được chia thành 5 chủ đề mạch lạc: từ những bùng nổ tình tự lãng mạn thời kỳ đầu, tinh thần yêu nước trong những khúc hùng ca thời khói lửa, cho đến những không gian trưng bày chuyên biệt tôn vinh các nhạc sĩ lớn gắn bó máu thịt với Thủ đô như Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh.
Nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Trương Quý, người đã viết các tác phẩm nghiên cứu sâu về tân nhạc Việt Nam nổi tiếng như “Dấu chân qua năm cửa ô”, “Một thời Hà Nội hát” hay “Thời thanh xuân của Tân nhạc Ái Quốc” đã dày công với bộ sưu tập lần này. Phân tích về điều kiện lịch sử và căn cước văn hóa độc đáo mà tân nhạc đã định hình cho Hà Nội trong hai thập niên bản lề, anh chia sẻ: “Nếu như hình dung lại Hà Nội qua những bài hát tân nhạc trong suốt 20 năm từ 1934-1954 thì đó là một khung cảnh trữ tình, lãng mạn và thậm chí còn có màu sắc hiện đại. Bên cạnh những cuộc vận động về văn hoá, tri thức, giáo dục lúc đó thì tân nhạc cũng được truyền bá tương đối rộng rãi. Tất nhiên ban đầu chưa được phổ biến với tầng lớp bình dân hay ở nông thôn bên ngoài Hà Nội. Thời kỳ đó, chính đời sống và tinh thần cởi mở, đón nhận cái mới và chất lãng mạn trong người Hà Nội đã tạo điều kiện để tân nhạc phát triển ở Hà Nội. Những tờ nhạc được trưng bày ở đây trông rất đơn sơ nhưng là kết quả của một giai đoạn truyền bá những sản phẩm văn hoá trong lòng Hà Nội suốt 2 thập niên, đánh dấu sự trưởng thành về sự sáng tạo trong âm nhạc, tạo thành những sản phẩm mang tính độc bản.”
Ngược dòng thời gian về những năm thập niên 1930, khi làn sóng văn hóa phương Tây du nhập vào đời sống xã hội Việt Nam, tân nhạc ra đời như một nhu cầu tự thân của tầng lớp dân thành thị. Cũng trong thời kỳ này, Hà Nội đã chứng kiến nhiều sự đổi mới, phát triển trong lĩnh vực nghệ thuật. Những giai điệu mới mẻ viết theo hệ thống ký âm phương Tây nhanh chóng bước vào đời sống đô thị, phản ánh sâu sắc tâm tư của một thế hệ trí thức, thanh niên và văn nghệ sĩ yêu nước.
Cùng với phong trào Thơ mới, ca từ của các ca khúc tiền chiến đã giải phóng bản ngã cá nhân. Từ đó những cảm xúc riêng tư của con người thời bấy giờ– nỗi tương tư, sự bâng khuâng, những hoài niệm mơ mộng trước bước chuyển mình của xã hội – lần đầu tiên được cất lên thành lời hát một cách tự nhiên, tinh tế. Tiến sĩ Ngữ văn Trần Ngọc Hiếu, chuyên gia ngôn ngữ và giảng viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho biết: “Các ca khúc tân nhạc giai đoạn từ 1934-1954 đánh dấu sự phát triển của tiếng Việt hiện đại vì suốt 10 thế kỷ Trung đại văn học Việt Nam chủ yếu nói bằng ngôn ngữ giàu tính ước lệ và vì thế cảm xúc cá nhân của con người thời Trung đại không có nhiều cơ hội bày tỏ. Về mặt biểu đạt thì ca từ trong tân nhạc cũng rất gần với thơ mới, thơ lãng mạn. Hà Nội là một tâm điểm của tân nhạc Việt Nam. Không phải tất cả những ca khúc phải nhắc đến chữ Hà Nội thì mới hình dung đấy là bài hát về Hà Nội. Ví dụ nhiều bài của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trừ bài Em gái miền Nam có nhắc đến Hà Nội đều không nhắc đến từ Hà Nội. Tuy nhiên nhiều bài như bài Gửi gió cho mây ngàn bay hay bài Thu quyến rũ khi nghe cũng toát lên vẻ đẹp mùa Thu của Hà Nội, toát lên một vẻ lịch lãm, một sự sang trọng”.
Một trong những giá trị cốt lõi giúp các tình khúc thời kỳ đầu của tân nhạc có sức sống vượt thời gian nằm ở bản lĩnh văn hóa của những người sáng tác. Bước vào một địa hạt âm nhạc hoàn toàn mới mẻ, đối diện với sức ảnh hưởng mạnh mẽ từ nhạc lý và kỹ thuật hòa âm phương Tây, các thế hệ nhạc sĩ tiền bối vẫn luôn giữ được chất Việt trong ca từ và làn điệu của mình. Họ chọn lọc những thủ pháp tinh hoa của thế giới để tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn người Việt. Đứng từ góc độ của một người làm nghề hôm nay, nhạc sĩ Giáng Son bày tỏ sự khâm phục đối với tư duy sáng tạo của các bậc tiền bối, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của âm nhạc trong việc kiến tạo nên bản sắc của thành phố: “Những bài hát này sống đến tận hôm nay đó chính là vì bài hát có đủ vẻ đẹp về tâm hồn, về giai điệu và cảm xúc. Tuy là thời kỳ đầu của tân nhạc nhưng các nhạc sĩ đã rất chú ý đến tính nghệ thuật và sự kết hợp giữa âm nhạc châu Âu với âm nhạc Việt Nam. Đây là điều chúng tôi đã phải học hỏi nhiều. Ngay từ thời kỳ đầu mà các nhạc sĩ đã chú ý đến tính dân tộc để không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố phương Tây. Thời kỳ này có sự kết hợp giữa những thứ mang tính hiện đại và tính dân tộc. Điều khó nhất trong thời kỳ đầu khi mà chưa có sự dẫn lối trong khi đó ảnh hưởng của âm nhạc phương Tây rất mạnh mẽ. Nếu không cẩn thận thì rất dễ bị chạy theo và không còn là chính mình. Tuy nhiên các nhạc sĩ thời đó rất giàu bản lĩnh để giữ được tính Việt Nam, họ chỉ tiếp cận những kỹ thuật sáng tác, những thủ pháp sáng tác hoặc cách viết như 5 dòng kẻ của âm nhạc châu Âu nhưng âm điệu vẫn là của con người Việt Nam, của âm nhạc Việt Nam”.
Những giai điệu như “Hà Nội 49”, “Chiếc lá cuối cùng”, “Trương Chi” hay “Hướng về Hà Nội” khi được vang lên giữa không gian bảo tàng đã kết nối trực tiếp cảm xúc của bao thế hệ công chúng. Ở đó, người ta bắt gặp những khán giả lớn tuổi tìm lại ký ức một thời thanh xuân hào hùng, thanh lịch; nhưng cũng thấy rất nhiều bạn trẻ, học sinh, sinh viên chăm chú chiêm ngưỡng từng tờ nhạc ố màu thời gian và lắng nghe với sự say mê, thích thú. Là nghệ sĩ trực tiếp thể hiện các nhạc phẩm kinh điển trong buổi trưng bày, ca sĩ Quỳnh Hoa bộc bạch về niềm tự hào cũng như áp lực khi làm chiếc cầu nối đưa tinh thần âm nhạc tiền chiến đến với thính giả đương đại: “Khi được hát những tình khúc của thuở bình minh của tân nhạc Việt Nam đối với Quỳnh Hoa, lòng ngập tràn tự hào vì Quỳnh Hoa cũng là một người con của thủ đô Hà Nội yêu dấu. Quỳnh Hoa cũng hơi bị áp lực một chút vì để hát những nhạc phẩm đó không phải dễ dàng. Đối với Quỳnh Hoa, nhịp điệu hay là giai điệu không phải là quá khó, cái khó nhất là làm sao hát được ra cái hồn của nhạc xưa. Trong khán phòng hôm nay, Quỳnh Hoa thấy cả những bạn trung niên mặc những bộ đầm rất sang đến để nghe gợi nhớ về một thời cha anh xưa, nhưng Hoa cũng nhận thấy có những ban nhạc, những học sinh, những sinh viên rất là trẻ cũng đến xem với sự phấn khích. Điều đó làm cho người nghệ sĩ biểu diễn như Quỳnh Hoa thấy mình có một vai trò như cầu nối giữa những tác phẩm xưa đó để đưa được hơi thở của ngày hôm nay đến cho người nghe”.
Những giai điệu của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh hay Dương Thiệu Tước vẫn tiếp tục ngân vang và mang nhiều giá trị trong đời sống hôm nay. Bằng việc tập hợp, bảo tồn những tờ nhạc gốc và mở ra không gian đối thoại cho các thế hệ, Trưng bày “Hướng về thành phố xa xưa” vừa giúp công chúng hiểu hơn về sự hình thành của tân nhạc giai đoạn 1934 - 1954, vừa cho thấy âm nhạc luôn là một phần không thể thiếu trong ký ức và bản sắc văn hóa của Hà Nội.
