Nghe âm thanh tại đây:
Hơn 50 tác phẩm mỹ thuật được giới thiệu tại triển lãm “Ký ức những năm tháng không quên” đang đưa công chúng trở về với một thời kỳ đặc biệt của đất nước – những năm tháng từ 1950 đến 1980, khi con người Việt Nam vừa chiến đấu, vừa lao động, sản xuất, học tập và dựng xây quê hương. Qua những tác phẩm ấy, một thời kỳ gian khó nhưng giàu niềm tin, ý chí và khát vọng vươn lên được kể lại bằng ngôn ngữ của nghệ thuật.
Vừa qua, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, triển lãm chuyên đề “Ký ức những năm tháng không quên” chính thức mở cửa đón công chúng, hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Hơn 50 tác phẩm được lựa chọn từ bộ sưu tập mỹ thuật hiện đại của Bảo tàng, với nhiều chất liệu và thể loại khác nhau như sơn dầu, sơn mài, lụa, bột màu, đồ họa, chì và điêu khắc. Những tác phẩm này đa số là tác phẩm tiêu biểu của phương pháp hiện thực, hiện thực xã hội chủ nghĩa, diễn ngôn của một thời kỳ cần lao, gian khó nhưng tràn ngập tinh thần lạc quan cách mạng.
Ông Vi Kiến Thành, Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, cho rằng chính sự gắn bó thực tế đã tạo nên giá trị đặc biệt của những tác phẩm được giới thiệu lần này: “Đây là thế hệ họa sĩ đã bám sát thực tế cuộc sống lao động sản xuất với mỹ cảm trong sáng, tinh thần lạc quan đã cho ra đời những tác phẩm xuất sắc được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sưu tầm và hôm nay trưng bày giới thiệu với công chúng. Triển lãm sẽ giúp cho thế hệ hôm nay thông qua các tác phẩm mỹ thuật hiểu hơn về một thời kỳ gian khó và hào hùng của những con người lao động trong sự nghiệp xây dựng đất nước.”
Điều khiến triển lãm có sức hấp dẫn và thu hút sự quan tâm của nhiều người nằm ở câu chuyện được kể phía sau mỗi bức tranh. Đó là câu chuyện về những người nông dân trên đồng ruộng, những công nhân trong nhà máy, những người lính trên tuyến đường vận tải, những lớp học giữa những năm tháng chiến tranh, hay những sinh hoạt bình dị của đời sống thường ngày. Ở đó, người xem có thể hình dung một miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu; vừa là hậu phương của tiền tuyến miền Nam, vừa nỗ lực xây dựng cuộc sống mới.
Để có được những hình ảnh chân thực ấy, nhiều thế hệ họa sĩ, nhà điêu khắc đã rời khỏi phòng vẽ, đi đến những công trường, nông trường, nhà máy, xí nghiệp, vùng núi và những miền quê xa xôi để sống cùng nhân dân, quan sát và ghi lại những khoảnh khắc của đời sống.
Nếu nhìn từ những bức tranh về nông nghiệp, người xem có thể bắt gặp một không khí lao động đầy sức sống qua “Cấy” của Nguyễn Văn Bình, “Tát nước chống hạn” của Nguyễn Tư Nghiêm, “Trên đồng cỏ nông trường Đồng Giao” của Tạ Thúc Bình hay “Gieo mạ - Gặt mùa” của Huỳnh Phương Đông. Những người nông dân xuất hiện trong tranh không mang vẻ mệt mỏi của một thời kỳ còn nhiều thiếu thốn. Ngược lại, họ hiện lên khỏe khoắn, lạc quan, gắn bó với đồng ruộng và tin tưởng vào tương lai.
Từ những cánh đồng, câu chuyện của đất nước tiếp tục được mở rộng đến những công trường, nhà máy, những tuyến đường vận tải. Các tác phẩm “Việt Bắc (đắp đường)” của Đào Đức, “Tiếp vận Tây Nguyên” của Nguyễn Như Huân, “Lao động vì miền Nam” của Thanh Ngọc và Trọng Cát gợi lại một miền Bắc trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ – nơi mỗi người đều góp sức cho tiền tuyến. Đó là tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, là những con người vừa chắc tay súng, vừa vững tay búa, vừa lao động, sản xuất, vừa hướng về mục tiêu thống nhất đất nước.
Và khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hình ảnh người công nhân tiếp tục trở thành một nguồn cảm hứng lớn của mỹ thuật. Những màu áo xanh, những nhà máy, hầm mỏ, công trường hiện lên mạnh mẽ trong “Tổ lắp máy nhà máy đóng tàu Hải Phòng” của Nguyễn Cao Thương hay “Công nhân mỏ” của Sỹ Tốt.
Ông Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, chia sẻ rằng điều mà bảo tàng muốn tái hiện không đơn thuần là không khí lao động của một giai đoạn lịch sử, mà còn là những cảm xúc và giá trị tinh thần phía sau mỗi con người: “Mỗi tác phẩm không chỉ phản ánh không khí lao động sản xuất của các tầng lớp nhân dân mà còn lưu giữ những cảm xúc, khát vọng, niềm tin và ý chí vươn lên của dân tộc. Di sản mỹ thuật như một kho tàng ký ức thị giác của dân tộc. Mỗi một tác phẩm là một di sản của thời đại, góp phần bảo tồn những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, giúp công chúng hôm nay và mai sau hiểu sâu sắc hơn về quá khứ, thêm trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai.”
Hội hoạ hiện thực cũng ghi lại những khoảnh khắc giữa chiến tranh, thiếu thốn hay những bộn bề của công cuộc xây dựng đất nước, con người vẫn gìn giữ những giá trị giản dị của cuộc sống. Một bữa cơm được mang ra đồng trong “Đưa cơm ra đồng” của Nguyễn Quốc Hùng. Một đứa trẻ hồn nhiên chăm sóc đàn gà trong “Bé cho gà ăn” của Nguyễn Phú Cường. Hay câu chuyện về lòng trung thực được gửi gắm trong tác phẩm “Không tham của rơi” của Đào Văn Can. Đặc biệt, tinh thần hiếu học, một truyền thống lâu đời của người Việt cũng được các nghệ sĩ khắc họa qua “Học hỏi lẫn nhau” của Nguyễn Đỗ Cung và “Nữ công nhân đọc sách” của Cần Thư Công.
Với bà Nguyễn Bình Minh, nguyên cán bộ Bảo tàng Mỹ thuật, đây chính là một trong những giá trị khiến triển lãm trở nên đặc biệt trong dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước: “Những bức tranh này làm cho mọi người nhớ lại không khí lao động, sản xuất trong thời kỳ chiến tranh cũng như thời kỳ xây dựng đất nước sau hòa bình. Tôi thấy ngày xưa các họa sĩ phải đi thực tế để ghi chép, để tìm thấy sự đổi mới, không khí làm việc và tìm ra đề tài gần với cuộc sống thực tế nhất. Chính vì vậy các bức tranh ở đây đều mang hơi thở của thời kỳ đó. Tinh thần của các họa sĩ vẽ nên những bức tranh này xứng đáng để cho các thế hệ trẻ học hỏi.”
Những câu chuyện được ghi lại trong những bức tranh vẫn có khả năng chạm đến người xem hôm nay, đặc biệt là các bạn trẻ. Một số bạn trẻ chia sẻ:
“Thông qua triển lãm, em sẽ được trang bị nhiều kiến thức hơn về lịch sử cũng như những hoàn cảnh khác nhau của quê hương đất nước. Từ đó em có thể phát triển kiến thức của bản thân cũng như công việc của em trong tương lai.”
“Khi xem triển lãm em cảm thấy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và muốn cống hiến cho Tổ quốc nhiều hơn. Em cảm thấy quá trình lao động sản xuất của Việt Nam trong thời kháng chiến là quá trình gian nan, vất vả, lâu dài và có rất nhiều đóng góp của thế hệ cha anh. Trong kháng chiến mọi thứ đều khó khăn như vật chất và tư liệu sản xuất nhưng mọi người vẫn lao động hăng say, cần cù để kiến tạo đất nước”.
Không chỉ công chúng trong nước, triển lãm còn thu hút sự quan tâm của những vị khách quốc tế. Bà Joanna Skoczek, Trưởng Phái đoàn Đại sứ quán Ba Lan tại Việt Nam, cho rằng một trong những điều đáng chú ý của mỹ thuật Việt Nam là khả năng kết nối nghệ thuật với lịch sử và ký ức dân tộc: “Tôi rất trân trọng việc nghệ thuật luôn đồng hành trong các sự kiện kỷ niệm. Dù là dịp kỷ niệm lịch sử hay sự kiện văn hóa, nghệ thuật đều hiện diện như một phần không thể thiếu. Triển lãm hôm nay là một trong những nơi tôi yêu thích nhất, vì nơi đây không chỉ trưng bày những hiện vật có giá trị nghệ thuật đỉnh cao mà còn truyền tải trọn vẹn những câu chuyện lịch sử. Điều này đặc biệt có ý nghĩa bởi đối tượng tham quan không chỉ có công chúng trong nước mà còn có đông đảo du khách quốc tế.”
Nghệ thuật có cách riêng để lưu giữ ký ức. Trong những đường nét của “Việt Bắc”, “Tiếp vận Tây Nguyên”, người xem có thể cảm nhận tinh thần đoàn kết của một dân tộc trong chiến tranh. Trong “Tổ lắp máy nhà máy đóng tàu Hải Phòng”, “Công nhân mỏ”, có hình ảnh của những con người đặt sức lao động và trách nhiệm với đất nước lên trên những khó khăn của bản thân. Trong “Học hỏi lẫn nhau”, “Nữ công nhân đọc sách”, là niềm tin rằng tri thức có thể mở ra tương lai. Còn trong những khoảnh khắc đời thường như “Đưa cơm ra đồng”, “Bé cho gà ăn”, là một Việt Nam bình dị, giàu tình người. Tất cả tạo thành một bức tranh lớn về con người Việt Nam trong những năm tháng đất nước còn nhiều gian khó nhưng luôn hướng về phía trước.
