Khởi nguồn từ vùng đất Địa Trung Hải hàng nghìn năm trước Công nguyên, Mosaic, nghệ thuật ghép những mảnh nhỏ li ti thành những mảng tranh trang trí lộng lẫy và từng được coi là đỉnh cao của kiến trúc và tôn giáo phương Tây cổ đại. Tại việt Nam, làng gốm Bát Tràng đã du nhập loại hình nghệ thuật này và sáng tạo dựa trên chất đất và men gốm truyền thống nơi đây. Từ những công trình nổi tiếng như Con đường gốm sứ ven sông Hồng cho đến những mảng tường kiến trúc đương đại hay những tác phẩm dân gian mang đậm hồn cốt dân tộc, mosaic gốm đang mở ra một diện mạo mới cho mỹ thuật ứng dụng.

Nhắc đến dấu mốc đưa mosaic gốm bước vào đời sống công chúng Thủ đô một cách mạnh mẽ nhất, không thể không nhắc tới công trình Con đường gốm sứ ven sông Hồng, công trình nghệ thuật kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đó không chỉ là kỷ lục về quy mô, mà còn là bước ngoặt làm thay đổi tư duy làm nghề của nhiều nghệ nhân gốm Bát Tràng. Là một trong những người tiên phong gắn bó với công trình lịch sử này ngay từ những ngày đầu, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Quý Sơn chia sẻ về cơ duyên đặc biệt đã mở ra con đường sáng tạo mới: “Mỗi một bức tranh gồm hàng trăm loại men, đòi hỏi yếu tố của một người nghệ nhân, một người nghệ sĩ, một người kiến trúc sư. Để làm được tranh còn đòi hỏi phải có công nghệ. Tôi ấn tượng sâu sắc nhất là công trình con đường gốm sứ của hoạ sĩ Nguyễn Thu Thuỷ. Ý tưởng của chị là ghép những bức tranh mosaic để gắn trên con đường gốm sứ. Từ ý tưởng đó hoạ sĩ đi tìm những người để hợp tác thực hiện dự án đầu tiên ở cửa khẩu An Dương. Đấy là dấu ấn tôi cảm thấy rất tuyệt vời. Chính từ con đường gốm sứ đó đã mở đầu cho nghề tranh mosaic của tôi”.

Để hiểu về sức hút của nghệ thuật ghép mảnh, cần ngược dòng thời gian về thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên tại Hy Lạp cổ đại. Thuở ban đầu, mosaic được tạo nên từ những viên sỏi cuội, những mảnh đá màu, thủy tinh hay vỏ sò, được các nghệ nhân tỉ mỉ gắn kết để trang trí sàn nhà, tường cung điện và các công trình tôn giáo của đế chế La Mã và Byzantine. Điểm cốt lõi làm nên sự kỳ diệu của mosaic nằm ở tính chuyển mảnh: mỗi mảnh ghép đơn lẻ tưởng chừng vô tri, nhưng khi được phối hợp chuẩn xác theo trật tự về sắc độ, kích thước và đường nét, chúng sẽ hòa quyện thành một tổng thể thị giác đẹp mắt.

Nếu như mosaic trên thế giới phần lớn sử dụng các mảnh vật liệu đã định hình sẵn như đá tự nhiên, gạch men cắt sẵn hay thủy tinh màu, thì mosaic gốm Bát Tràng lại đòi hỏi một quy trình sáng tạo độc bản ngay từ phôi đất sống. Người nghệ nhân phải trực tiếp nhào nặn, tạo hình và tính toán kỹ lưỡng từng chuyển động của mảnh đất trước khi đưa vào lò lửa. Theo Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Quý Sơn, đây chính là thử thách lớn nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của những người thợ làm gốm: “Mosaic trên thế giới thì họ làm từ những mảnh có sẵn nhưng ở đây chúng tôi làm trực tiếp từ đất gốm ở làng nghề Bát Tràng. Do vậy tôi phải tìm ra phương pháp, cách làm, phân mảnh, tạo hình trực tiếp từ đất và chọn lọc nhiều màu sắc, màu men đa dạng để thể hiện chi tiết bức tranh. Sau đó phải nung qua lửa, màu sắc có thể biến hoá không theo ý của mình. Do vậy phải nghiên cứu rất tỉ mỉ từ màu men cho đến nhiệt độ nung”.

Để một bức tranh mosaic gốm bước ra đời thực, người làm nghề phải trải qua quy trình 7 bước nghiêm ngặt và công phu, kéo dài hàng tuần lễ. Bắt đầu từ khâu chuẩn bị phôi đất sét, đùn dải và tính toán độ co ngót của đất trước và sau khi nung; đến bước tạo hình trực tiếp của họa sĩ và thợ thủ công trên nền đất mềm để định hình bố cục. Tiếp đó, đất được cắt thành từng mảnh phơ nhỏ, sấy khô đạt độ ẩm tiêu chuẩn từ 0,8 đến 3% trước khi được vệ sinh và nhấn men màu thủ công.

Công đoạn nung đốt ở nhiệt độ cao đòi hỏi kỹ thuật khắt khe: nhiệt độ được nâng dần từ nhiệt độ phòng lên tới 1.230°C trong suốt 18 tiếng, giữ nhiệt 4 tiếng và làm nguội tự nhiên trong 16 tiếng. Ở ngưỡng nhiệt độ này, xương gốm kết khối rắn chắc như đá, màu men chảy hòa quyện, tạo ra những sắc độ biến ảo mà không loại màu vẽ nhân tạo nào có thể sánh được. Khi ra lò, từng mảnh ghép được kiểm tra tỉ mỉ, gắn lưới định vị và cố định lên các bề mặt kiến trúc.

Không chỉ chinh phục giới hội họa, mosaic gốm nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ biểu đạt đắc lực cho giới kiến trúc và thiết kế nội ngoại thất hiện đại. Với khả năng uốn lượn linh hoạt theo các bề mặt phức tạp, từ những bức tường phẳng, mái vòm cho đến những cột trụ tròn uốn cong, mosaic mang lại chiều sâu thị giác và tính biểu cảm phong phú cho các công trình. Kiến trúc sư Lê Tuấn Long chia sẻ về việc ứng dụng loại vật liệu này: “Gốm mosaic là một trong những vật liệu rất ưu việt. Thứ nhất là độ bền rất tốt. Thứ hai là có thể chủ động được trong việc lựa chọn màu sắc. Thứ ba là chiều sâu rất tốt. Thứ tư là thuận lợi cho việc tạo hình. Do vậy gốm mosaic là một trong những loại vật liệu mà chúng tôi rất ưa thích. Khi mosaic được thể hiện lên thì tạo ra những bức tranh rất phong phú, đa dạng và có chiều sâu trong tư duy thiết kế”.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, sự xuất hiện của những nhà thiết kế trẻ được đào tạo bài bản đã mang đến cho mosaic gốm một hơi thở đương đại mới: đưa các đề tài tranh dân gian như Lý Ngư Vọng Nguyệt, Vinh Quy Bái Tổ hay các họa tiết truyền thống bước lên những mảng tường hiện đại. Kỹ sư thiết kế Nguyễn Phương Thảo chia sẻ về quá trình sáng tạo đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi tự hào, tiêu biểu như khi thực hiện bộ tranh Lân Sư Rồng: “Trong quá trình làm tranh mosaic dân gian tôi cũng gặp một số khó khăn như phần tạo hình, phân khung. Trên mạng cũng chỉ có hình ảnh đồ hoạ để tham khảo. Ngoài ra tôi tham khảo hình đầu lân trong nghệ thuật múa lân để đưa ra hoạ tiết, tạo hình, màu sắc. Lúc bắt đầu làm tôi phải tìm ra những màu sắc tương ứng, phù hợp với văn hoá dân gian như vàng, đỏ, xanh cô ban”.

Từ những bức tranh treo tường kích thước nhỏ cho đến những công trình trang trí ngoại thất ngoài trời, việc ứng dụng mosaic gốm đã vượt qua ranh giới của một món đồ thủ công mỹ nghệ đơn thuần. Đó là sự giao thoa hoàn hảo giữa kỹ thuật kiến trúc, tư duy tạo hình mỹ thuật và giá trị bản địa. Khi được đặt trong không gian sống hiện đại, những mảnh gốm truyền thống rực rỡ sắc màu khẳng định sức sống bền bỉ, vượt thời gian.