Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành lại độc lâp tự do cho đất nước Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ gần trăm năm của thực dân Pháp, cũng mở ra bước ngoặt lịch sử với nhiều ngành văn học nghệ thuật, trong đó có mỹ thuật Việt.

Nhiều họa sĩ của nền mỹ thuật Việt hiện đại non trẻ khi ấy - trưởng thành từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đã nhanh chóng từ bỏ “tháp ngà nghệ thuật”, dùng tài năng của mình thâm nhập vào đời sống cách mạng, đi cùng bộ đội và nhân dân, ghi lại hình vóc con người, sự kiện của thời đại.

Từ tranh cổ động, ký họa chiến trường đến những tác phẩm được sáng tác trong gian khổ của những năm đầu kiến thiết đất nước, trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp tiếp liền sau đó, những người họa sĩ ấy góp phần tạo nên một “biên niên sử bằng hình” đặc biệt của đất nước, trong sự yêu thương trân trọng của người dân cần lao.

Triển lãm văn hóa tháng 10-1945 tại nhà Khai Trí Tiến Đức bên hồ Hoàn Kiếm được nhắc tới như một trong những sự kiện mỹ thuật lớn đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám. Trong bài “Dấu ấn ‘bình minh’ của nền mỹ thuật cách mạng” trên Báo Quân đội nhân dân, PGS TS Quách Thị Ngọc An đã nhấn mạnh sự chuyển mình mạnh mẽ của mỹ thuật Việt trong giai đoạn 1945-1946, khi người họa sĩ “rời những chủ đề quen thuộc để hòa vào mặt trận văn hóa tiến bộ”, kể từ khi Việt Nam tuyên bố giành độc lập dân tộc.

Theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội mỹ thuật Việt Nam, giới mỹ thuật đã hiện diện rất nhanh trong không khí lịch sử ấy: “Có thể nói rằng, ngay từ mùa thu tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 thành công, đội hình xuống đường nhanh nhất là giới mỹ thuật Việt Nam Những tranh cổ động khổ lớn đã giăng đầy đường phố Hà Nội trong mùa thu 19/8 lịch sử của dân tộc chúng ta, sau đó đến Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

Nhìn trong toàn cảnh Việt Nam mới giành độc lập – khi ấy hơn 90% dân số không biết đọc, biết viết, và ngay sau Tuyên ngôn Độc lập (ngày 2/9/1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp bách đề ra nhiệm vụ chống “giặc dốt” như chống “giặc đói” - mới có thể thấy hết được tài năng của những họa sĩ thời kỳ ấy quý giá đến nhường nào.

Về bối cảnh lịch sử chung đó, PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ cho biết: "Cách mạng tháng 8 thành công, ngày mùng 2/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng ngay sau đó Pháp lợi dụng danh nghĩa của quân Đồng Minh, với sự hậu thuẫn của quân Anh, nổ súng gây hấn ở Nam Bộ. Cho đến ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ theo Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi đi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đương nhiên phải dùng tất cả các lực lượng: của quân đội, những người lính vệ quốc, rồi các tầng lớp nhân dân...Nhưng trong đó có một binh chủng rất quan trọng, là lực lượng văn học nghệ thuật."

Mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của toàn dân tộc chống thực dân Pháp, sự chuyển hướng trong nghệ thuật cũng trở thành một lựa chọn sống. Nhiều họa sĩ thuộc thế hệ được đào tạo trước Cách mạng rời đời sống thị thành để đi theo kháng chiến, chia sẻ gian khổ với bộ đội và nhân dân. Nhờ vậy, tác phẩm của họ không phản ánh chiến tranh từ bên ngoài mà thực sự mang đến sự sống động bằng trải nghiệm trực tiếp của người trong cuộc.

“Câu chuyện đằng sau của người nghệ sĩ, đời sống thật của họ, có thể nói rằng dân tộc kham khổ như thế nào thì họ kham khổ như thế. Thế hệ vàng của mỹ thuật Đông Dương Hà Nội hào hoa như thế, mà họ bỏ tất cả, đi theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Và bản thân các họa sĩ, họ chịu đựng sự thiếu thốn, ăn đói, mặc rét cùng những anh bộ đội cụ Hồ, không khác gì cả.” - Họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ.

“Có thể nói rằng bức tranh thể hiện đầy đủ lời hiệu triệu của Bác Hồ, là tranh của danh họa Tô Ngọc Vân vẽ năm 1946, “Hà Nội vùng đứng lên”: Một thiếu nữ Hà Nội áo dài tung bay trên chiến lũy của Hà Nội. Trong quá trình ấy, năm 1947 từ bưng biền Đồng Tháp, nhà điêu khắc, họa sĩ Diệp Minh Châu đã vẽ bằng máu trên lụa tác phẩm Bác Hồ và ba thiếu nhi Trung - Nam - Bắc. Tín hiệu đẹp đẽ ấy từ tâm hồn và tài năng của các nghệ sĩ đã thể hiện thành công hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cháu thiếu nhi.Bức tranh này cũng là Bảo vật quốc gia và đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam." - Họa sĩ Lương Xuân Đoàn cho biết.

Trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn mọi bề, đóng góp rất đặc thù của người họa sĩ nằm ở khả năng ghi nhận hiện thực ngay tại chỗ. Một cuốn sổ, vài nét chì hay màu nước có thể lưu lại cuộc hành quân, phút nghỉ chân, gương mặt chiến sĩ. Ký họa và tranh cổ động cũng có thể được đưa tới công chúng nhanh chóng, thậm chí trưng bày ngay ở các trạm nghỉ hay đơn vị bộ đội trên đường hành quân.

Ngôn ngữ hình ảnh vì thế vừa lưu giữ lịch sử, vừa tác động trực tiếp tới cảm xúc, như nhận xét của họa sĩ Lương Xuân Đoàn: “Công cụ nhanh nhất là ký họa chiến trường, sau đấy là tranh cổ động, đến nhanh nhất với xã hội và công chúng. Đây là ngôn ngữ trực tiếp, và ấn tượng thị giác là đầu tiên khi mắt chạm vào tác phẩm, cho nên nó đánh thức ngay lập tức, không cần ra lời hiệu triệu gì ở trong bức tranh. Họa sĩ cũng không cần nói bằng lời, cứ bằng ngôn ngữ hội họa, bằng tiếng lòng của mình, bằng cảm xúc của mình trên tác phẩm hội họa.”

Những người họa sĩ – chiến sĩ đã hiện diện trong những thời khắc lớn của đất nước, vừa phản ánh hiện thực, vừa động viên tinh thần, đồng thời phát hiện vẻ đẹp của những con người bình thường. Cũng trên những chặng đường kháng chiến gian khổ ấy, người lính, dân công, “bà bủ”, “bà bầm” hay những cuộc họp trong chiến hào trở thành nhân vật, câu chuyện của hội họa. Nhiều người thậm chí không biết mình đang được vẽ. Chính sự quan sát nhanh và nhạy cảm của họa sĩ đã giữ lại những chân dung tự nhiên của một thời, vừa mang cảm xúc nghệ thuật, vừa như những lát cắt trực tiếp của lịch sử.

“Để nói về sự kịp thời, thì chính những người chiến sĩ cũng ngỡ ngàng, chính những bà bủ bà bầm cũng ngỡ ngàng, vì tự nhiên lại thấy mình ở trong tranh. Họ bất ngờ. Chính họ không biết rằng vẻ đẹp của chính mình đang làm đẹp thêm dung nhan của đất nước, của dân tộc, của người cách mạng. Đấy là điều chỉ có họa sĩ làm được.”

Sự đồng hành với lịch sử có khi phải trả bằng chính cuộc đời người nghệ sĩ. Họa sĩ Lương Xuân Đoàn nhắc tới danh họa Tô Ngọc Vân như một trường hợp tiêu biểu của hình tượng nghệ sĩ - chiến sĩ, người đi cùng cuộc kháng chiến và trở về với đất mẹ. Nền mỹ thuật cách mạng không chỉ tạo dựng bằng tài năng và tác phẩm, mà bằng cả sự dấn thân, xương máu của những người nghệ sĩ tài hoa bậc nhất: “Có thể nói rằng ở mỗi chặng đường đều có những sự đổ máu các họa sĩ, chiến sĩ ngã xuống ở mặt trận. Người liệt sĩ đầu tiên của nền mỹ thuật Việt Nam là danh họa Tô Ngọc Vân. Ông mất khi chiến thắng Điện Biên Phủ đã thành công, tháng 6/1954. Đấy là một sự thiệt thòi lớn cho nền nghệ thuật cách mạng Việt Nam.” - Ông nói.

Theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, nhìn rộng hơn, đóng góp của các nghệ sỹ mỹ thuật còn nằm ở việc tạo nên một cách ghi sử đất nước riêng bằng đường nét, màu sắc và hình khối. Mỗi người có tiếng nói cá nhân, chất liệu và cách biểu đạt khác nhau, nhưng những sáng tác ấy cùng nối thành dòng chảy về đất nước, con người Việt Nam.

Từ ký họa kháng chiến thuở bình minh của mỹ thuật cách mạng tới mỹ thuật Việt Nam đương đại, sự tiếp nối quan trọng thể hiện ở việc những nghệ sĩ mỹ thuật Việt tiếp tục tìm hình tượng của thời đại mình và giữ mối liên hệ với đời sống dân tộc. Những màu sắc, hình khối được vẽ bằng tài năng, bằng xương máu của nhiều thế hệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã góp phần nuôi dưỡng thêm nguồn mạch văn hóa Việt Nam hôm nay: luôn yêu chuộng hòa bình, thấu hiểu và trân trọng giá trị của tự do, độc lập.