Tọa đàm “Nam tính và Những nam tính” thuộc chuỗi sự kiện Người trẻ và Giới, do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tuần qua, bao gồm nhiều hoạt động đa dạng (có học thuật chuyên sâu lẫn phổ cập kiến thức), như bài giảng công cộng, bàn tròn thảo luận và không gian tương tác giữa các bạn trẻ học sinh, sinh viên với chuyên gia về các vấn đề giới và nữ quyền đang được quan tâm hiện nay.
Ngoài ra, chuỗi sự kiện cũng góp phần thúc đẩy sự trao đổi và thực hành về bình đẳng giới, ủng hộ văn hóa đọc trong người trẻ cũng như độc giả trên toàn quốc. Thông qua tọa đàm, việc giới thiệu tới công chúng Việt Nam cuốn sách Những nam tính của Giáo sư danh dự Raewyn Connell, một công trình kinh điển trong nghiên cứu giới, đã được dịch sang 24 thứ tiếng, không chỉ đánh dấu sự hiện diện của một tác phẩm có ảnh hưởng lớn trong xã hội học đương đại, mà còn mở ra một không gian đối thoại học thuật và xã hội về câu hỏi nền tảng: nam tính được tạo ra như thế nào, vận hành ra sao và có thể được biến đổi theo những hướng nào trong bối cảnh khủng hoảng của trật tự giới hiện nay?
Từ gợi dẫn của nhà phê bình Vũ Ánh Dương, dựa trên công trình “Những nam tính” của Raewyn Connell, “nam tính” được xác định như một thực hành giới, chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị, văn hóa và xã hội, do đó luôn vận động, bất ổn và cần được nhìn nhận vượt ra ngoài các khuôn mẫu cố định. Anh cho rằng cuốn sách còn đặc biệt hay ở phần sau, khi đưa ra nhiều hành động, nhiều biện pháp về thay đổi bình đẳng giới, rất đắc địa với những nhà hoạt động xã hội.
Với nỗ lực bổ sung tài liệu nền tảng cho tủ sách nghiên cứu giới tại Việt Nam, trong bối cảnh thiếu vắng các công trình chuyên sâu về nam tính, Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh chia sẻ về quá trình biên dịch công trình “Những nam tính” của Raewyn Connell, vừa là sự tiếp nối các tác phẩm nghiên cứu về giới khác, vừa là cách lấp đầy một khoảng trống học thuật quan trọng.
Đánh giá về nguyên tác, “Những nam tính”, dịch giả Nguyễn Thị Minh cho rằng đây là một công trình vừa mang tính kinh điển khi nó đã tiên phong đặt nền móng cho nghiên cứu về nam tính và làm thay đổi logic tư duy trong lý thuyết giới, vừa mang tính đương đại, gắn với bối cảnh các phong trào đấu tranh xã hội bùng nổ từ thập niên 1960-1970.
Đặc biệt, khác với cách tiếp cận của Judith Butler với công trình “Rắc rối giới” khi nhấn mạnh giới như một hành vi trình diễn; thì ở cuốn sách này Connell lựa chọn đi sâu vào những cấu trúc quyền lực đứng sau và chi phối các thực hành đó, mở ra một hướng tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu giới nói chung. Văn bản gốc mang giọng văn linh hoạt, nhiều sắc thái và không ít yếu tố ngôn ngữ “nghịch tai” đòi hỏi người dịch phải vừa chuyển ngữ, vừa chú giải và điều chỉnh để đảm bảo tính học thuật mà vẫn giữ được tinh thần nguyên tác.
PGS. TS. Bùi Mạnh Hùng, (nhà ngôn ngữ học đồng thời là Điều phối viên chính, Ban Phát triển CTGDPT 2018, và cũng là Tổng Chủ biên SGK Tiếng Việt - Ngữ văn, bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống”), nhận xét: "Đây là một bộ sách rất quan trọng trong mọi hướng nghiên cứu về giới. Đặc biệt trong bối cảnh văn hóa, chính trị xã hội của Việt Nam, cuốn sách này có thể mở ra nhiều góc nhìn hữu ích, khai thác rất sâu khía cạnh về giới. Nếu nhìn ở Việt Nam, những tác phẩm kinh điển, nổi tiếng như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc… đều có thể thấy hình bóng phụ nữ ở thế rất thiệt thòi, định kiến về giới rất rõ. Trong ca dao tục ngữ, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, tồn tại trong văn hóa Việt Nam cũng luôn có một định kiến giới: “Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu….”, hay như hàng ngày ta vẫn sẽ nói: “Ô, con gái gì mà ăn nói như vậy”…”Anh phải mạnh mẽ lên chứ, đàn ông lên chứ!”… Nhưng thời gian gần đây, nhà nước Việt Nam có nhiều nỗ lực để phát triển bình đẳng giới. Hai giai đoạn từ năm 2010 - 2020 và từ năm 2020 - 2030 có những chủ trương của Nhà nước về truyền thông, báo chí tăng cường quan niệm bình đẳng giới. "
“Nam tính” còn được nhìn nhận như một sản phẩm của diễn ngôn và quyền lực xã hội. Tiến sĩ Nguyễn Hiệp Trí, (nguyên là Phó trưởng phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em và Bảo trợ xã hội, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh), đã nhấn mạnh đến khái niệm “nam tính độc hại” như một tập hợp các tiêu chuẩn cực đoan áp đặt lên nam giới, được củng cố thông qua nhiều thiết chế khác nhau, từ văn hóa dân gian đến hệ thống giáo dục và không gian công cộng. Dù vậy, những biến chuyển gần đây trong giáo dục và chính sách cũng cho thấy nỗ lực từng bước điều chỉnh các diễn ngôn này theo hướng bình đẳng hơn. Từ đó, ông đặt ra yêu cầu cần chủ động đối diện và can thiệp vào các định kiến giới, không chỉ ở cấp độ cá nhân mà còn ở cấp độ thể chế.
Tiến sĩ Nguyễn Hiệp Trí đã chia sẻ ví dụ vể một bước tiến tưởng nhỏ mà có ý nghĩa rất lớn trong chăm sóc y tế đi kịp tiến trình hiểu biết về giới: "Đa số các bệnh viện, phòng khám đều có khoa sản, bệnh liên quan đến phụ nữ, còn cho đàn ông cũng có nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các bạn cộng đồng LGBT còn khó khăn hơn nữa, Khi tôi còn công tác ở Sở y tế thì chúng tôi cũng đang xây dựng một phòng khám ở bệnh viện Quận tư cũ để hướng đến xây dựng cho các bạn trong cộng đồng LGBT."
PGS. TS. Bùi Mạnh Hùng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “cài cắm” bình đẳng giới vào trong sách giáo khoa, nơi hình ảnh nam và nữ cần được cân bằng về vị trí và vai trò. Về phía mỗi cá nhân, cần sẵn sàng đối diện và tháo gỡ những định kiến ngay trong chính mình. Bởi nếu chúng ta không cùng nhau “vỗ tay” và lên tiếng, những vấn đề về giới sẽ mãi chìm khuất sau những bức màn định kiến.
Tiến sĩ Trần Nguyên Khang, giảng viên Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đặt “nam tính” trong mối liên hệ với quyền lực chính trị - quốc gia, cho thấy sự vận hành của nam tính bá quyền ở quy mô toàn cầu: "Cuốn sách này có những chương mà tôi rất thích: Nó diễn lại toàn bộ tiến trình nam tính gắn với những quốc gia như thế nào, trong quá trình họ tương tác với nhau và với những người nam, cái tính nam được đặt như thế nào trong việc người nam tham dự vào quá trình hội nhập kinh tế, xã hội và cuối cùng họ sẽ tạo ra những mẫu hình mà nam tính ở trung tâm, gắn với quốc gia như thế nào."
Tiến sĩ Trần Nguyên Khang chỉ ra rằng từ truyền thống văn hóa Hy - La, với hình tượng người nam lý tưởng như tượng của Michelangelo, đến tư duy duy lý của René Descartes, hình ảnh người đàn ông luôn gắn với lý trí, chinh phục và quyền lực. Những mô hình này một mặt định hình cá nhân, một mặt được mở rộng thành cấu trúc chính trị, nơi các quốc gia phương Bắc được mã hóa như “nam tính” với những đặc tính văn minh, thống trị, trong khi phương Nam bị gán là “nữ tính”, luôn lệ thuộc và kém phát triển. Mối quan hệ giữa “giới” và “thuộc địa” này cho thấy nam tính luôn là vấn đề của cá nhân, đồng thời hiện hữu như một logic quyền lực mang tính lịch sử, không ngừng tái sản xuất trong các hệ thống xã hội và trật tự toàn cầu
Thông qua công trình “Những nam tính”, Raewyn Connell đã chọn cách rọi ánh sáng vào những vùng tối tăm nhất để tìm ra sự đa dạng của nhiều dạng thức ở nam tính, từ sự thống trị của “Nam tính bá quyền” đến sự bị đẩy ra lề của “Nam tính tòng thuộc”. Bàn về vấn đề này, chia sẻ những nghiên cứu mà ông đã thực hiện, thạc sĩ Phù Khải Hùng khẳng định: nam tính không bao giờ là một khối đồng nhất, mà thực chất là một phổ bao gồm nhiều hình thái luôn vận động, tương tác và không ngừng tái lập ý thức hệ trong những bối cảnh văn hóa riêng biệt.
Hiểu về “những nam tính” thực chất là hành trình mỗi cá nhân tự đi tìm bản thể sâu kín nhất của chính mình để thoát khỏi những gán ghép, định kiến khắc nghiệt từ xã hội. Công trình “Những nam tính” của Raewyn Connell, thông qua hành trình 4 năm dịch thuật đầy thách thức của TS. Nguyễn Thị Minh đã cung cấp những lý thuyết vừa kinh điển vừa đương đại để mọi người có cơ hội khám phá và tìm hiểu về giới.
