Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, biển chứa đựng một nguồn tài nguyên có giá trị lớn là nguồn gen sinh vật biển, mở ra tiềm năng phát triển dược phẩm, công nghệ sinh học, giống thủy sản chất lượng cao và nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng.

Theo các chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học, với Việt Nam, quốc gia có đường bờ biển dài, hệ sinh thái biển đa dạng, phát huy giá trị nguồn gen không chỉ là yêu cầu của bảo tồn thiên nhiên, mà còn là hướng đi quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững, từng bước làm giàu từ biển bằng khoa học và công nghệ.

Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực quan trọng. Theo đó, biển không chỉ được nhìn nhận như một không gian khai thác tài nguyên, mà còn là không gian phát triển tri thức, công nghệ và những ngành kinh tế có giá trị cao.

Gen biển là nguồn tài nguyên lớn, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong nuôi trồng thủy sản, nghiên cứu nguồn gen giúp chọn tạo giống có năng suất cao, khả năng chống chịu dịch bệnh và thích nghi tốt hơn với biến đổi môi trường. Trong công nghệ sinh học, các sinh vật biển có thể cung cấp những hợp chất, enzyme và hoạt chất sinh học phục vụ nghiên cứu dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và vật liệu mới. Tuy nhiên, giá trị của nguồn gen không tự nhiên chuyển hóa thành lợi ích kinh tế. Điều đó đòi hỏi năng lực nghiên cứu, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và sự kết nối hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp, đặc biệt là hợp tác quy mô toàn cầu.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thanh Ca, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo Việt Nam, cho rằng: Nguồn gen biển mang lại giá trị rất lớn. Tuy nhiên, việc điều tra, khảo sát và lấy mẫu, cũng như là phân tích mẫu gen, nghiên cứu để tìm ra những giá trị của nguồn gen biển cần một nguồn kinh phí lớn và nguồn nhân lực chất lượng cao. Cho nên, việc triển khai thực hiện hợp tác nghiên cứu quy mô thế giới giúp cho việc chia sẻ công bằng lợi ích từ nguồn gen, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Phát triển nguồn gen biển là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, thời gian nghiên cứu dài và sự kết hợp của nhiều ngành khoa học. Vì vậy, theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục biển và hải đảo Việt Nam, hợp tác cần vượt ra ngoài khuôn khổ trao đổi khoa học đơn thuần, hướng tới các chương trình nghiên cứu chung, chia sẻ dữ liệu phù hợp, chuyển giao công nghệ và phát triển sản phẩm. Thông qua hợp tác với các quốc gia có thế mạnh về công nghệ sinh học, giải mã gen, nghiên cứu đại dương và bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến, đào tạo đội ngũ chuyên gia và nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước:

'Chúng tôi nhận thức rằng cùng nhau hợp tác phát triển các ngành kinh tế biển mới có hiệu quả, trong đó có kinh tế sinh học biển, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ môi trường biển, và các ngành dịch vụ biển có giá trị gia tăng cao. Mục tiêu không chỉ thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng đầu tư mà còn hình thành từng bước năng lực công nghệ doanh nghiệp và chuỗi giá trị của Việt Nam, đồng thời, bảo đảm sinh kế của người dân 21 tỉnh ven biển.

Để nguồn gen biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam đã xây dựng cơ sở dữ liệu và ngân hàng gen, tăng cường năng lực bảo tồn, đồng thời ưu tiên các chương trình nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu kết nối với ngành nuôi biển, chế biến thủy sản, công nghiệp sinh học và các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Giá trị nguồn gen đang dần thể hiện ở những công trình khoa học, ở những sản phẩm mới, việc làm mới và thu nhập ngày càng được cải thiện cho cộng đồng ven biển.

Từ thực tế mô hình ở địa phương, ông Nguyễn Như Hạnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh, khẳng định: "Thành phố đã có định hướng hình thành các vùng nuôi biển tập trung, từng bước tổ chức theo mô hình cụm công nghiệp nuôi biển, trong đó doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân được tổ chức sản xuất trong một không gian biển được quy hoạch, quản lý thống nhất, có hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phù hợp. Qua đó, không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng nuôi, mà quan trọng hơn là tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị."

Từ định hướng của Nghị quyết 20-NQ/TW, có thể thấy làm giàu từ biển ngày nay không chỉ là khai thác nhiều hơn, mà quan trọng hơn là tạo ra giá trị cao hơn từ tài nguyên sẵn có. Hợp tác quốc tế, kết hợp với năng lực khoa học và công nghệ trong nước, sẽ giúp Việt Nam từng bước chuyển lợi thế đa dạng sinh học thành sản phẩm có sức cạnh tranh, mở rộng không gian phát triển của kinh tế biển.

Khi nguồn gen được bảo tồn, tri thức được tích lũy và công nghệ được làm chủ, biển sẽ không chỉ là nguồn lực của hiện tại, mà còn là nền tảng cho những ngành kinh tế mới, góp phần đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh.