Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế tốc độ cao và chuyển đổi xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Không chỉ giảm áp lực lên nguồn cung, tiết kiệm năng lượng còn giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh.
Trong 5 năm qua, quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng hơn 30%, từ khoảng 340 tỷ USD lên trên 500 tỷ USD. Cùng với tốc độ phát triển đó, nhu cầu năng lượng cũng ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu phải bảo đảm nguồn cung ổn định, đồng thời sử dụng hiệu quả hơn từng đơn vị năng lượng. Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn mới đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lượng đi trước một bước, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp giảm tiêu thụ mà ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển đổi xanh.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Quốc hội thông qua năm 2025, cùng các cơ chế, chính sách mới, đang tạo thêm hành lang pháp lý cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Trong đó, việc chính thức công nhận mô hình Công ty dịch vụ năng lượng và định hướng hình thành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được kỳ vọng sẽ mở thêm nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp tiết kiệm năng lượng.
Từ bảo đảm an ninh năng lượng đến chuyển đổi xanh, tiết kiệm năng lượng đang trở thành yêu cầu xuyên suốt của nền kinh tế. Khi chính sách, hỗ trợ và công nghệ cùng phát huy hiệu quả, tiết kiệm năng lượng không chỉ giảm áp lực lên nguồn cung mà còn nâng cao sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh và bền vững.
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng: "Tiết kiệm năng lượng góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia cũng như là bảo vệ môi trường trong kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên về chuyển đổi xanh, cũng như là giúp Việt Nam thực hiện cam kết tại COP26 là đưa phát thải ròng bằng không. Về kinh tế thì có thể giúp cho các doanh nghiệp cũng như người dân thay đổi phương thức sử dụng những trang thiết bị một cách có hiệu quả hơn, làm sao sử dụng những trang thiết bị xanh hơn, tức là tiết kiệm năng lượng hơn, hoặc là bảo vệ môi trường. Còn về xã hội thì có thể làm cho nhận thức của người dân thay đổi tích cực hơn."
Để những định hướng đó đi vào thực tiễn, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có vai trò quan trọng, nhất là trong việc cung cấp kiến thức, công cụ và giải pháp kỹ thuật. Dự án Thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp Việt Nam VSU do Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương điều phối và thực hiện từ năm 2022 là một trong những hoạt động theo hướng này.
Dự án tập trung hỗ trợ doanh nghiệp từ đào tạo, xây dựng hướng dẫn kỹ thuật đến kiểm toán năng lượng và xây dựng các dự án đầu tư. Qua đó, doanh nghiệp có thể xác định rõ hơn những khâu tiêu thụ nhiều năng lượng, lựa chọn giải pháp phù hợp và từng bước chuyển hóa yêu cầu tiết kiệm năng lượng thành các dự án cụ thể.
Bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thuộc Bộ Công Thương, cho rằng: "Để thực hiện các mục tiêu và nội dung của Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn 2030, các nội dung thực hiện của dự án chủ yếu tập trung vào các hỗ trợ kỹ thuật như là đào tạo, xây dựng tài liệu đào tạo, xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện kiểm toán và xây dựng các dự án đầu tư. Đây là những nội dung rất quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp của Việt Nam thực hiện các giải pháp về tiết kiệm năng lượng."
Trong khi chính sách tạo hành lang và các chương trình hỗ trợ tạo điều kiện, thì công nghệ đang mở ra những phương thức mới để doanh nghiệp kiểm soát và tối ưu việc sử dụng năng lượng. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và các hệ thống quản trị năng lượng thông minh giúp doanh nghiệp theo dõi, đo lường chính xác mức tiêu thụ, nhận diện những khâu có thể tiết giảm và tối ưu vận hành thiết bị. Không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, những giải pháp này còn giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về ESG và phát triển bền vững của thị trường, qua đó tạo thêm lợi thế cạnh tranh trong quá trình chuyển đổi xanh.
Bà Đoàn Thị Hà, Phó Tổng Giám đốc Khối tự động hóa Công nghiệp, Công ty TNHH Schneider Electric Việt Nam và Campuchia, cho biết: "Việc ứng dụng các giải pháp năng lượng thông minh chắc chắn sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp. Cụ thể là thông qua giá trị rất là rõ rệt. Thứ nhất là khi liên quan tới các rào cản là giúp doanh nghiệp có thể đo lường được và kiểm soát và quản trị năng lượng. Rõ ràng là khi đo lường được thì chúng ta mới có thể tối ưu được. Thứ hai là liên quan tới việc tối ưu vận hành. Khi mà có dữ liệu về việc sử dụng năng lượng thì doanh nghiệp cũng biết rằng nơi nào là nơi doanh nghiệp có thể tối ưu và sử dụng năng lượng một cách hiệu quả hơn. Thứ ba là liên quan tới việc hướng tới ESG và phát triển bền vững.”
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương khẳng định: Phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược không chỉ là yêu cầu của ngành khoa học và công nghệ mà là yêu cầu của cả quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Hiện nay, sản phẩm công nghệ cao đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, phần giá trị gia tăng lớn nhất và các công nghệ lõi trong các sản phẩm công nghệ này vẫn thuộc về khu vực đầu tư nước ngoài... Do vậy, điều chúng ta cần hiện nay là làm chủ được những công nghệ lõi để tạo ra giá trị gia tăng cao cho đất nước.
Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy. Bởi nếu chỉ dừng ở việc thu hút một dự án đầu tư, ký một thỏa thuận hợp tác hay đưa một công nghệ vào Việt Nam, giá trị tạo ra có thể chỉ nằm ở trước mắt. Nhưng nếu thông qua hợp tác quốc tế để hình thành đội ngũ nhân lực, năng lực nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, thì ngoại giao sẽ thực sự tạo ra năng lực phát triển lâu dài.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhận định trong kỷ nguyên AI và bán dẫn, ngoại giao công nghệ giúp Việt Nam tìm đúng đối tác, đúng công nghệ, đúng lĩnh vực và quan trọng nhất là xây dựng được năng lực để tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến và từng bước sáng tạo công nghệ: Chúng tôi cho rằng đây là một trong những sứ mệnh cốt lõi của ngoại giao khoa học. Muốn thực hiện được sứ mệnh đó, phải xây dựng, kết nối và phát huy hiệu quả các mạng lưới khoa học quốc tế, qua đó đưa khoa học Việt Nam ra thế giới, đồng thời đưa thế giới đến với Việt Nam, cùng làm khoa học, cùng giải quyết những bài toán phát triển lớn của đất nước.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt. Với AI và bán dẫn, câu chuyện không còn đơn thuần là doanh nghiệp nào có sản phẩm tốt hơn, mà liên quan đến chuỗi cung ứng, hạ tầng tính toán, năng lượng, nhân lực, vốn, dữ liệu và cả các tiêu chuẩn, quy tắc quốc tế. Một nghiên cứu công bố năm 2026 trên Research in Globalization cũng chỉ ra rằng AI đang ngày càng trở thành một công cụ của cạnh tranh chiến lược; năng lực AI, hạ tầng tính toán, chip bán dẫn và việc định hình các quy tắc công nghệ đang tác động trực tiếp đến quan hệ quốc tế.
Vì vậy, nếu ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm thì ngoại giao công nghệ chính là mũi nhọn tiên phong, là nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao kinh tế trong kỷ nguyên mới. Theo Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không chỉ theo dõi tình hình chính trị, kinh tế mà cần nắm bắt các xu hướng công nghệ mới, nhận diện những trung tâm nghiên cứu, những doanh nghiệp công nghệ hàng đầu, những nguồn vốn và mạng lưới nhân lực mà Việt Nam có thể kết nối. Ngoại giao khoa học công nghệ phải tạo dựng môi trường thuận lợi để Việt Nam thu hút trí tuệ, nguồn lực chất lượng cao và kết nối Việt Nam với các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên thế giới.
Với những thế mạnh của Singapore, Việt Nam hiện nay cũng có Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, Khu công nghệ cao Hòa Lạc cũng như ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi kết nối những Trung tâm đổi mới sáng tạo này với các Viện nghiên cứu, các trường Đại học của Singapore. Thứ hai, Đại sứ quán kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp startup giữa Việt Nam và Singapore. Các startup ở Việt Nam năng lực rất tốt, ý tưởng cũng rất tốt nhưng họ cần những kinh nghiệm, nguồn lực, đó là thế mạnh của Singapore. Do vậy, Đại sứ quán đóng vai trò kết nối các hệ sinh thái này lại với nhau để có thể tận dụng được những sức mạnh tổng hợp.
Trong kỷ nguyên mà AI, bán dẫn, dữ liệu và các công nghệ chiến lược đang trở thành những nguồn lực mới của sức mạnh quốc gia, nước nào kết nối được tốt nhất giữa năng lực trong nước và nguồn lực toàn cầu, nước đó sẽ có thêm lợi thế trong cuộc cạnh tranh phát triển. Với Việt Nam, ngoại giao công nghệ mở đường để tiếp nhận tri thức, kết nối để cùng nghiên cứu, hợp tác để cùng phát triển và cuối cùng là tạo dựng năng lực công nghệ của chính mình, đưa năng lực công nghệ thành một nguồn sức mạnh mới của quốc gia.
