Nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron, ngày 09/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bắt đầu chuyến thăm chính thức CH Pháp. Chuyến công tác diễn ra trong thời điểm đặc biệt quan trọng, mở ra giai đoạn hợp tác mới sâu rộng và thực chất hơn giữa hai quốc gia. Sự kiện này đang nhận được sự quan tâm và kỳ vọng rất lớn từ cộng đồng trí thức, cùng các nhà khoa học trẻ Việt Nam đang làm việc tại Pháp. Phóng viên ĐTNVN có cuộc trò chuyện với PGS, TS Trần Lê Hưng, hiện đang giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Gustave Eiffel, thủ đô Paris.

Nghe âm thanh tại đây:

PV: Thưa PGS.TS Lê Hưng, nhân chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9-12/9. Với tư cách là một nhà khoa học đang giảng dạy tại Đại học Gustave Eiffel, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của sự kiện này đối với mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu?

PGS TS Trần Lê Hưng: Theo tôi, chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quan hệ Việt Nam - Pháp, nhất là trong bối cảnh hai nước đang bước vào một giai đoạn mới của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Nếu trước đây hợp tác Việt Nam - Pháp được xây dựng trên nền tảng rất rộng về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học, thì hiện nay chúng ta có điều kiện để đưa mối quan hệ đó đi vào chiều sâu hơn, với trọng tâm là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao và các công nghệ chiến lược.

Từ góc nhìn của một nhà khoa học đang làm việc tại Đại học Gustave Eiffel, tôi đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu. Tôi cho rằng đây chính là một trong những “trụ cột mềm” nhưng có sức ảnh hưởng lâu dài nhất trong quan hệ hai nước. Bởi nếu chúng ta kết nối được các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp của hai bên, chúng ta không chỉ tạo ra một vài dự án hợp tác, mà có thể hình thành cả một hệ sinh thái tri thức Việt Nam - Pháp.

Thực tế cho thấy nền tảng hợp tác này đã có từ rất lâu. Một ví dụ tiêu biểu là Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH, được xây dựng trên cơ sở hợp tác liên chính phủ Việt Nam – Pháp và có sự tham gia của một mạng lưới lớn các trường đại học, tổ chức nghiên cứu của Pháp. Đây là minh chứng cho thấy hai nước hoàn toàn có khả năng xây dựng những mô hình đào tạo và nghiên cứu có tính quốc tế, gắn đào tạo với nghiên cứu và nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Điều tôi kỳ vọng trong giai đoạn tới là chúng ta chuyển mạnh từ mô hình “trao đổi sinh viên, trao đổi học giả” sang mô hình “cùng đào tạo, cùng nghiên cứu và cùng đổi mới sáng tạo”. Ví dụ, hai bên có thể xây dựng thêm các chương trình đồng đào tạo, đồng hướng dẫn tiến sĩ, các phòng thí nghiệm chung, các nhóm nghiên cứu liên quốc gia và những chương trình nghiên cứu dài hạn trong các lĩnh vực mà cả Việt Nam và Pháp đều có lợi thế.

Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang đặt khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ở vị trí động lực then chốt của phát triển, tôi cho rằng hợp tác với Pháp cần tập trung vào những bài toán lớn và có tính chiến lược: trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đô thị thông minh, hạ tầng xanh, giao thông bền vững, đường sắt tốc độ cao, năng lượng sạch, vật liệu mới, hàng không – vũ trụ và công nghệ môi trường.

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian quốc tế tại Paris trong chuyến công tác lần này cũng mở ra một không gian hợp tác rất đáng chú ý. Pháp hiện là một trong những trung tâm quan trọng của châu Âu về công nghệ không gian và đang thúc đẩy mạnh mẽ năng lực tự chủ chiến lược của châu Âu trong lĩnh vực này. Đây là lĩnh vực mà Việt Nam có thể từng bước tham gia sâu hơn thông qua đào tạo nhân lực, nghiên cứu ứng dụng, dữ liệu vệ tinh, viễn thám, quan trắc môi trường và quản lý đô thị. Tuy nhiên, theo tôi, điều quan trọng nhất của chuyến thăm không nằm ở số lượng thỏa thuận được ký kết, mà nằm ở khả năng biến những thỏa thuận đó thành các chương trình có nguồn lực, có người thực hiện và có kết quả đo đếm được.

Nếu chuyến thăm lần này tạo được một bước chuyển từ hợp tác theo từng dự án nhỏ sang xây dựng những chương trình hợp tác khoa học - giáo dục dài hạn, thì tôi tin đây sẽ là một trong những đóng góp rất quan trọng để đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp đi vào chiều sâu và thực chất hơn.

PV: Cộng đồng trí thức và các nhà khoa học trẻ Việt Nam tại Pháp đang dành sự quan tâm và kỳ vọng lớn nhất vào những chính sách hay thông điệp nào từ Tổng Bí thư Tô Lâm trong chuyến công tác lần này?

PGS TS Trần Lê Hưng: Theo tôi, nếu phải chọn một thông điệp mà cộng đồng trí thức, nhà khoa học trẻ Việt Nam tại Pháp mong chờ nhất, thì đó là thông điệp về niềm tin và cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài thực sự tham gia vào công cuộc phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.

Qua những định hướng gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tôi cho rằng có ba kỳ vọng rất rõ. Thứ nhất, chúng tôi kỳ vọng một chính sách thực chất để thu hút và kết nối trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Đội ngũ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp hiện có một lợi thế rất đặc biệt: được đào tạo và làm việc trong môi trường khoa học quốc tế, có mạng lưới hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp châu Âu, đồng thời vẫn có mong muốn đóng góp cho Việt Nam.

Vì vậy, điều chúng tôi cần không chỉ là lời kêu gọi trở về, mà là những cơ chế cụ thể để có thể đóng góp ngay cả khi đang sống và làm việc ở nước ngoài: tham gia các nhóm nghiên cứu chung, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng phòng thí nghiệm liên kết, chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách hay tham gia các dự án đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, chúng tôi rất kỳ vọng vào một môi trường khoa học thực sự coi trọng người làm khoa học và kết quả nghiên cứu. Gần đây, Tổng Bí thư nhấn mạnh năm 2026 phải là “năm hành động”, chuyển từ nhận diện điểm nghẽn sang tạo ra những kết quả cụ thể, đo lường được; đồng thời đặt trọng tâm vào phát triển nhân lực chất lượng cao, công nghệ chiến lược và làm chủ công nghệ lõi. Tôi nghĩ đây là thông điệp rất quan trọng đối với các nhà khoa học trẻ.

Đặc biệt, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh vai trò của khoa học cơ bản như nền móng để hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa và năng lực tự chủ dài hạn là một tín hiệu rất đáng mừng đối với cộng đồng khoa học. Bởi muốn làm chủ AI, vật liệu mới, bán dẫn, năng lượng, công nghệ sinh học hay các công nghệ chiến lược khác, Việt Nam không thể chỉ mua và sử dụng công nghệ mà phải có năng lực nghiên cứu nền tảng để tự tạo ra tri thức và công nghệ của mình.

Thứ ba, và có lẽ quan trọng nhất, chúng tôi kỳ vọng một thông điệp mạnh mẽ về việc “trao việc, trao cơ hội và trao trách nhiệm” cho thế hệ trí thức trẻ. Người Việt Nam ở nước ngoài không nên chỉ được nhìn nhận như một nguồn lực có thể “thu hút về nước”, mà cần được coi là một bộ phận của hệ sinh thái khoa học và đổi mới sáng tạo Việt Nam. Chúng tôi mong muốn được tham gia vào những bài toán lớn của đất nước: đường sắt tốc độ cao, đô thị thông minh, chuyển đổi năng lượng, hạ tầng xanh, AI, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, công nghệ vũ trụ...

PV: Việt Nam đang đẩy mạnh Nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo ông, Pháp có thể chia sẻ những thế mạnh cốt lõi nào để hỗ trợ Việt Nam bứt phá trong các ngành công nghệ mũi nhọn như công nghệ thông minh, hạ tầng xanh hay năng lượng tái tạo?

PGS TS Trần Lê Hưng: Theo tôi, thế mạnh lớn nhất của Pháp không chỉ nằm ở từng công nghệ cụ thể, mà ở khả năng kết nối giữa nghiên cứu khoa học, công nghệ, doanh nghiệp và chính sách công để đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra quy mô ứng dụng. Đây cũng là điểm rất phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam hiện nay.

Trước hết, Pháp có thế mạnh về trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và các hệ thống thông minh. Chiến lược AI của Pháp được xây dựng theo một hệ sinh thái khá hoàn chỉnh, từ nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực, dữ liệu, siêu máy tính cho tới ứng dụng AI trong công nghiệp và các đô thị thông minh. Với Việt Nam, tôi cho rằng hợp tác không nên chỉ dừng ở việc chuyển giao một phần mềm hay một thiết bị, mà nên hướng tới đồng phát triển các giải pháp AI phục vụ quản lý đô thị, giao thông, hạ tầng và giám sát môi trường, trong đó dữ liệu Việt Nam được sử dụng để giải quyết những bài toán rất cụ thể của Việt Nam.

Thứ hai là hạ tầng xanh và giao thông bền vững. Pháp có kinh nghiệm rất sâu về đường sắt, giao thông công cộng, quy hoạch đô thị, công trình và quản lý hạ tầng theo hướng giảm phát thải. Chính tuyên bố chung Việt Nam - Pháp năm 2025 đã xác định hạ tầng, kết nối đô thị, đường sắt, năng lượng tái tạo, hydrogen và đào tạo nhân lực khoa học – công nghệ là những lĩnh vực hợp tác chiến lược. Đây là lĩnh vực mà Việt Nam có nhu cầu rất lớn khi phát triển các đô thị lớn và đặc biệt là đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao và hệ thống hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba là năng lượng sạch và công nghệ giảm phát thải. Pháp đang tập trung mạnh vào hydrogen carbon thấp, năng lượng tái tạo, quản lý hệ thống năng lượng và các công nghệ phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng trong khuôn khổ France 2030. Đây là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với Việt Nam, đặc biệt trong bài toán tích hợp điện mặt trời, điện gió, lưu trữ năng lượng, hydrogen và lưới điện thông minh.

Nhưng theo tôi, “công nghệ” chỉ là một nửa của câu chuyện. Điều Việt Nam muốn thúc đẩy hợp tác với Pháp, chính cách xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: trường đại học và viện nghiên cứu hợp tác với doanh nghiệp, nhà nước tạo cơ chế thử nghiệm, còn doanh nghiệp đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và thị trường. France 2030 hiện cũng đặt trọng tâm vào cả nghiên cứu, đào tạo, công nghệ số, startup và công nghiệp hóa.

Đặc biệt, hai nước hiện đã có Hiệp định hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, và Việt Nam đã phê duyệt kế hoạch triển khai hiệp định này trong năm 2026. Vì vậy, tôi cho rằng đây là thời điểm rất thuận lợi để chuyển quan hệ hợp tác Việt Nam - Pháp từ “hợp tác chuyển giao công nghệ” sang “cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng đưa công nghệ ra thị trường”.

Nếu làm được như vậy, Việt Nam không chỉ tiếp nhận công nghệ của Pháp, mà có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ, hình thành đội ngũ nhân lực trình độ cao và từng bước làm chủ những công nghệ chiến lược. Đó mới là nền tảng để nghị quyết về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự tạo ra một bước bứt phá.

PV: Từ thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu tại một trong những đại học hàng đầu về công nghệ hàng đầu nước Pháp, ông có đề xuất mô hình hay cơ chế hợp tác cụ thể nào để kết nối mạng lưới chuyên gia Việt - Pháp, giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia hiệu quả hơn?

PGS TS Trần Lê Hưng: Theo tôi, để chuyển đổi số thực sự tạo ra đột phá, chúng ta cần chuyển từ tư duy “chuyển giao công nghệ” sang tư duy “cùng xây dựng năng lực công nghệ”. Và trong quá trình đó, mạng lưới chuyên gia Việt Nam tại Pháp có thể đóng một vai trò rất quan trọng.

Từ thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Gustave Eiffel, tôi cho rằng có thể xây dựng một mô hình mà tôi tạm gọi là “Mạng lưới chuyên gia số Việt – Pháp”, trong đó kết nối ba thành phần: các cơ quan quản lý và địa phương của Việt Nam, các trường đại học – viện nghiên cứu của hai nước và cộng đồng doanh nghiệp công nghệ.

Điểm quan trọng là mạng lưới này không nên chỉ là một danh sách các chuyên gia. Mỗi nhóm chuyên gia cần gắn với một bài toán cụ thể của Việt Nam. Chẳng hạn, một địa phương đặt bài toán về quản lý giao thông thông minh, một thành phố cần xây dựng hệ thống quản lý hạ tầng số, hay một bộ, ngành cần ứng dụng AI để phân tích dữ liệu. Khi đó, chuyên gia Việt Nam tại Pháp cùng các đồng nghiệp Pháp có thể tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, xây dựng mô hình, thử nghiệm và đánh giá hiệu quả.

Tôi xuất xây dựng các “phòng thí nghiệm số liên kết Việt – Pháp”, có thể vận hành theo mô hình hybrid. Một phần nhóm nghiên cứu ở Việt Nam, một phần ở Pháp, cùng sử dụng dữ liệu, nền tảng tính toán và cơ sở vật chất của hai bên. Đây là mô hình rất phù hợp với khoa học hiện đại bởi chúng ta không nhất thiết phải đưa tất cả chuyên gia về Việt Nam; điều quan trọng là tạo ra được một không gian nghiên cứu chung và một cơ chế hợp tác chung.

Ví dụ, trong lĩnh vực tôi nghiên cứu là hạ tầng và giao thông, chúng ta có thể xây dựng một nền tảng nghiên cứu về “hạ tầng thông minh”, kết hợp cảm biến, Internet of Things, trí tuệ nhân tạo và Digital Twin để theo dõi tình trạng cầu, đường, đường sắt và các công trình đô thị theo thời gian thực. Việt Nam cung cấp các bài toán và dữ liệu thực tế; các nhóm nghiên cứu Việt – Pháp cùng phát triển thuật toán, mô hình và công nghệ; doanh nghiệp tham gia đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng.

Tôi nghĩ đây chính là điểm chúng ta có thể tận dụng rất tốt từ cộng đồng trí thức Việt Nam tại Pháp. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại Pháp không chỉ có chuyên môn, mà còn có mạng lưới hợp tác quốc tế, hiểu cả hai môi trường khoa học và có khả năng kết nối các nhóm nghiên cứu của hai nước. Nếu có một cơ chế đủ linh hoạt, nguồn lực này có thể trở thành một “cầu nối tri thức” rất hiệu quả.

Một cơ chế nữa mà tôi cho rằng rất cần thiết là các chương trình tài trợ nghiên cứu chung Việt -Pháp, nhưng cách đánh giá cũng cần thay đổi. Thay vì mỗi bên thực hiện một phần công việc độc lập, nên ưu tiên những dự án có nhóm nghiên cứu hỗn hợp, có doanh nghiệp tham gia và có sản phẩm hoặc giải pháp có khả năng triển khai thực tế. Có thể bắt đầu bằng những dự án thí điểm quy mô nhỏ, sau đó nhân rộng khi chứng minh được hiệu quả.

Và tôi muốn nhấn mạnh một điểm: chuyển đổi số không chỉ là mua phần mềm hay xây dựng cơ sở dữ liệu. Quan trọng hơn là xây dựng được năng lực làm chủ công nghệ và đội ngũ con người. Vì vậy, mỗi dự án hợp tác Việt – Pháp nên có một cấu phần đào tạo rất rõ: đào tạo nghiên cứu sinh, kỹ sư, cán bộ quản lý; đồng hướng dẫn luận án; trao đổi chuyên gia; và quan trọng nhất là đào tạo thông qua chính các dự án thực tế.

Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ tạo ra một vòng tuần hoàn: bài toán thực tiễn của Việt Nam → nghiên cứu chung Việt – Pháp → thử nghiệm công nghệ → đào tạo nhân lực → doanh nghiệp thương mại hóa → quay trở lại giải quyết những bài toán lớn hơn.

Theo tôi, đó mới là cách để chuyển đổi số đi vào thực chất. Và với cộng đồng chuyên gia Việt Nam tại Pháp, tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái đó - không chỉ là những người “mang công nghệ từ Pháp về Việt Nam”, mà là những người cùng Việt Nam tạo ra công nghệ, làm chủ công nghệ và đưa công nghệ vào giải quyết các vấn đề phát triển của đất nước.

PV: Để thu hút và phát huy tối đa nguồn lực trí thức Việt Nam tại nước ngoài cống hiến cho sự nghiệp đổi mới sáng tạo của đất nước, ông mong muốn chính phủ sẽ có những bước đi đột phá nào về cơ chế, chính sách trong thời gian tới?

PGS TS Trần Lê Hưng: Theo tôi, nếu muốn thu hút và phát huy tối đa nguồn lực trí thức Việt Nam ở nước ngoài, điều quan trọng nhất là chúng ta phải thay đổi tư duy từ “vận động, thu hút” sang “đồng hành và kiến tạo cơ chế”. Đây cũng chính là một trong những điểm rất mới và rất đáng chú ý của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Nghị quyết 23 xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng thời đặt yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của cộng đồng. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng một hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và thế hệ trẻ người Việt Nam trên toàn cầu.

Từ góc nhìn của một nhà khoa học đang làm việc tại Pháp, tôi mong muốn có ba bước đột phá. Thứ nhất, xây dựng một cơ chế “đóng góp không biên giới”. Trong khoa học hiện đại, một chuyên gia có thể ở Paris nhưng vẫn có thể đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh ở Hà Nội, tham gia một dự án nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh, tư vấn cho một địa phương, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam hoặc tham gia xây dựng chính sách. Nghị quyết 23 cũng đã xác định rõ việc mở rộng các phương thức đóng góp từ xa của kiều bào thông qua tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, kết nối đầu tư và thị trường.

Thứ hai, xây dựng một “mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu” thực chất, thay vì chỉ có danh sách liên lạc. Theo tôi, đây có thể là một trong những dự án quan trọng để cụ thể hóa Nghị quyết 23. Chúng ta cần một cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối chuyên gia Việt Nam trên toàn thế giới, trong đó không chỉ biết một người đang làm ở đâu, mà phải biết họ có chuyên môn gì, đang nghiên cứu công nghệ nào, có thể giải quyết bài toán gì và Việt Nam đang cần gì.

Khi đó, một địa phương có bài toán về đô thị thông minh, một doanh nghiệp cần công nghệ AI hay một viện nghiên cứu cần chuyên gia về năng lượng tái tạo có thể tìm được ngay những chuyên gia phù hợp ở Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản hay Australia....

Nói cách khác, chúng ta phải xây dựng một “hệ thống khớp nối cung – cầu tri thức”. Đây cũng là hướng đang được đặt ra trong quá trình cụ thể hóa Nghị quyết 23, với việc hình thành mạng lưới và hệ sinh thái kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và doanh nhân Việt Nam toàn cầu với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước. Thứ ba, phải có cơ chế trọng dụng và đặt hàng trí thức kiều bào theo kết quả. Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng. Cần mạnh dạn đặt những bài toán lớn của quốc gia cho các nhóm chuyên gia Việt Nam trong và ngoài nước cùng giải quyết.

Ví dụ, Việt Nam đang phát triển AI, bán dẫn, năng lượng mới, hạ tầng xanh, đường sắt tốc độ cao, công nghệ sinh học, chuyển đổi số. Mỗi lĩnh vực có thể hình thành những nhóm chuyên gia Việt Nam toàn cầu, được Nhà nước hoặc doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, với nguồn kinh phí đủ dài hạn và cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm, kết quả và tác động thực tế.

Tôi mong muốn cơ chế này có thể liên kết với Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khi Nghị quyết 57 tạo ra những bài toán phát triển công nghệ lớn, thì Nghị quyết 23 có thể tạo ra mạng lưới nhân lực và tri thức Việt Nam toàn cầu để giải những bài toán đó. Đây sẽ là sự kết hợp rất mạnh giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế của người Việt Nam ở nước ngoài.

Tôi cũng cho rằng cần có những cơ chế đãi ngộ đủ cạnh tranh và minh bạch, đặc biệt đối với các nhà khoa học đầu ngành và chuyên gia trong những lĩnh vực chiến lược. Nhưng đãi ngộ không chỉ là tiền lương. Đó còn là quyền tự chủ nghiên cứu, quyền tiếp cận cơ sở vật chất và dữ liệu, thủ tục hành chính đơn giản, cơ chế sở hữu trí tuệ rõ ràng, khả năng thành lập nhóm nghiên cứu và quan trọng nhất là niềm tin và sự tôn trọng đối với tri thức.

Nếu làm được điều đó, chúng ta sẽ không còn đặt câu hỏi “làm thế nào để đưa trí thức Việt Nam ở nước ngoài về nước?”, mà sẽ đặt một câu hỏi lớn hơn: “Làm thế nào để kết nối toàn bộ nguồn lực trí tuệ Việt Nam trên toàn thế giới vào sự nghiệp phát triển đất nước?” Tôi nghĩ đó chính là tinh thần rất mới của Nghị quyết 23. Và với cộng đồng trí thức Việt Nam tại Pháp, chúng tôi sẵn sàng tham gia vào quá trình đó. Chúng tôi không chỉ muốn là những người quan sát hay hỗ trợ từ bên ngoài, mà muốn trở thành một phần của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Nếu Nghị quyết 23 được cụ thể hóa thành những cơ chế đủ mạnh, tôi tin rằng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở hơn 130 quốc gia, trong đó có một lực lượng ngày càng lớn các chuyên gia, trí thức và nhà khoa học trẻ, sẽ không chỉ là một nguồn lực tiềm năng, mà có thể trở thành một nguồn lực chiến lược thực sự của quốc gia.