Có nhiều cách để một người giữ gìn và lan tỏa tiếng Việt khi sống xa quê hương. Có người dành gần hai thập kỷ đứng trên bục giảng, rồi nhận ra thành quả lớn nhất của mình đôi khi chỉ nằm trong sự thay đổi của một từ: từ “đi Việt Nam” thành “về Việt Nam”. Có người không phải giáo viên ngôn ngữ, mà là một nhà khoa học. Chị giữ tiếng Việt trước hết trong căn nhà của mình, bằng những cuốn sách đọc cho con từ khi còn trong bụng mẹ, rồi bằng hành trình hai mẹ con cùng viết, cùng vẽ để một đứa trẻ lớn lên ở nước ngoài không cảm thấy tiếng mẹ đẻ là điều phải học, mà là một món quà muốn giữ lại.

Giảng viên Nguyễn Thị Liên Hương tại Đài Loan, Trung Quốc và PGS -TS Nguyễn Thị Thu Hiền tại Đan Mạch là hai trong số 8 cá nhân được trao danh hiệu “Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài” năm 2026, thực sự là những người đưa đò neo tiếng Việt theo cách rất riêng mình.

Tiếng Việt là “món quà” để con mang theo suốt đời

Hơn 20 năm sống và làm việc ở nước ngoài, hiện là chuyên gia cao cấp về sinh y tại Bệnh viện Đại học Aalborg, Đan Mạch, chị Nguyễn Thị Thu Hiền từng nhiều lần tham gia các hoạt động kết nối cộng đồng người Việt. Khi còn là nghiên cứu sinh tại Hàn Quốc, vợ chồng chị cùng tham gia thành lập Hội Sinh viên Việt Nam.

Sang Đan Mạch, họ tiếp tục đồng hành với cộng đồng; năm 2023 tham gia thành lập Hội Chuyên gia và Trí thức Việt Nam tại Đan Mạch. Trong đại dịch Covid-19, chị cùng nhiều chuyên gia người Việt ở các quốc gia hỗ trợ quê hương, sau đó tiếp tục những hoạt động kết nối trường đại học, bệnh viện và giới chuyên gia.

Với Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền, tiếng Việt trước hết đi từ câu chuyện của một gia đình xa xứ. Người phụ nữ làm khoa học có một cách định nghĩa rất riêng về tiếng MẸ: “Ở mỗi một giai đoạn tôi đều nhận ra một điều là tiếng Việt, không chỉ là ngôn ngữ của ký ức, tiếng Việt còn là ngôn ngữ của tri thức, là ngôn ngữ của sự sẻ chia và là ngôn ngữ của những người Việt Nam luôn hướng về nhau và hướng về cội nguồn.”

“Ngôn ngữ của tri thức”, cách nói ấy có lẽ mang dấu ấn rất rõ của một nhà khoa học. Với Nguyễn Thị Thu Hiền, tiếng Việt không chỉ thuộc về ký ức quê nhà hay những sinh hoạt văn hóa truyền thống. Nó còn hiện diện trong những cuộc trao đổi chuyên môn, những kết nối giữa các chuyên gia trong cộng đồng; là phương tiện để những người Việt ở nhiều nơi trên thế giới tìm thấy nhau và cùng làm một điều có ích cho quê hương.

Nhưng nếu ở ngoài xã hội, tiếng Việt là ngôn ngữ của tri thức và sự sẻ chia, thì khi trở về gia đình, Nguyễn Thị Thu Hiền lại nói về tiếng mẹ đẻ bằng một tâm thế rất khác: tâm thế của một người mẹ. Vợ chồng chị từng lo các con sau này sẽ “chơi vơi giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa”. Vì vậy, họ mang theo rất nhiều sách tiếng Việt và đọc cho con từ khi con còn trong bụng mẹ. Và, điều quan trọng nhất, là chị không nhìn việc dạy tiếng Việt cho con như một trách nhiệm nặng nề của những gia đình xa xứ.

Chị gọi đó là: “một món quà”!

“Trong gia đình, vợ chồng tôi cũng luôn cố gắng gìn giữ văn hóa Việt, nói tiếng Việt với các con của mình. Chúng tôi luôn nghĩ rằng, dạy tiếng mẹ đẻ cho con không phải là một gánh nặng mà là một món quà, một món quà giúp con giữ được cội nguồn và có một cái bản sắc rõ ràng của riêng mình. Một đứa trẻ mà có gốc rễ sâu thì nó mới phát triển rực rỡ và vững chãi được.”

Dạy tiếng mẹ đẻ cho con không phải là một gánh nặng mà là một món quà, một món quà giúp con giữ được cội nguồn và có một bản sắc rõ ràng của riêng mình..

"Món quà”, “gốc rễ”, rồi từ gốc rễ ấy “phát triển rực rỡ và vững chãi” điều nhà khoa học Nguyễn Thị Thu Hiền muốn giữ cho con là một cảm giác rõ ràng về cội nguồn và bản sắc của mình. Và cũng vì thế, thay vì chỉ yêu cầu con học tiếng Việt, chị tìm cách để con cùng sống với tiếng Việt.

Từ cảm hứng với Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Thị Thu Hiền nảy ra ý tưởng tự viết truyện để con gái cùng tham gia. Chị viết, con gái Lê Bảo Hân vẽ minh họa. Cuộc phiêu lưu của Bella và Harry, kể về hành trình trưởng thành của hai anh em cá nhỏ, ra đời từ những khoảng thời gian hai mẹ con dành cho nhau như thế.

Điều người mẹ ấy vui nhất sau hành trình hai năm không phải chỉ là hoàn thành được sách: Hành trình hai năm đồng hành cùng con gái Bảo Hân viết hai cuốn sách tiếng Việt là một hành trình vô cùng đáng giá và vô cùng hạnh phúc. Con gái biết nhiều từ vựng tiếng Việt hơn, yêu việc đọc và viết tiếng Việt hơn.

Và khi con gái Bảo Hân hỏi chúng tôi câu hỏi về việc dạy tiếng Việt cho con của con, thực sự vợ chồng tôi nhận ra rằng món quà lớn nhất không phải là việc con nói được tiếng Việt mà là con muốn giữ và truyền lại tiếng Việt cho thế hệ tiếp theo.”

Đích đến của chị không phải là một đứa trẻ “biết tiếng Việt”. Đích đến là một đứa trẻ muốn tự mình giữ tiếng Việt. Và người mẹ ấy còn rút ra một kinh nghiệm: “Trẻ thì sẽ không làm theo những gì cha mẹ nói mà sẽ làm theo những gì cha mẹ làm, cha mẹ hành động. Nếu cha mẹ luôn giữ gìn văn hóa Việt, luôn yêu Việt Nam bằng một tình yêu nồng thắm thì tôi tin rằng một cách tự nhiên con sẽ yêu tiếng Việt Việt nó không chỉ là ngôn ngữ mà tiếng Việt nó cũng là cội nguồn.”

Từ “đi Việt Nam” đến “về Việt Nam”

Nếu nhà khoa học Nguyễn Thị Thu Hiền đến với câu chuyện gìn giữ tiếng Việt từ gia đình và trải nghiệm của một người mẹ, thì với giảng viên Nguyễn Thị Liên Hương ở Đài Loan, Trung Quốc, tiếng Việt lại là một công việc mà chị đã gắn bó trong phần lớn đời sống nghề nghiệp của mình.

Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, từng công tác tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nguyễn Thị Liên Hương đã sống tại Đài Loan hơn 26 năm. Từ năm 2008, chị giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam tại Đại học Quốc lập Đài Loan. Công việc của chị không chỉ có đứng lớp, mà còn bao gồm biên soạn sách, đào tạo giáo viên, dịch thuật, truyền thông và kết nối những cộng đồng giảng dạy tiếng Việt.

Thuộc thế hệ hiếm hoi những giảng viên gốc Việt đầu tiên đào tạo tiếng Việt tại đại học Đài Loan , nhưng điều chị nói mình “tâm đắc nhất” lại không phải danh sách những việc đã làm. Mà đó là sự thay đổi chị nhìn thấy ở người học.

Trong lớp của Nguyễn Thị Liên Hương có sinh viên Đài Loan, những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai trong các gia đình Việt – Đài, học viên ngành ngoại giao, cảnh sát và cả sinh viên đến từ Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Và người giảng viên ấy nhớ rất rõ một sự thay đổi tưởng như rất nhỏ: “Khi mới học tiếng Việt, các em thường nói: Cô ơi, em muốn đi Việt Nam. Sau một thời gian học, các em lại nói: Cô ơi, em muốn về Việt Nam,. Chỉ một chút thay đổi thôi, nhưng đối với tôi đó là điều vô cùng ý nghĩa, ‘đi’ là khi Việt Nam còn xa, còn về là thi Việt Nam đã trở thành một nơi thân thuộc trong cảm xúc.”

Có lẽ chỉ một người đứng lớp đủ lâu và đủ gần người học mới chú ý đến sự thay đổi tinh tế ấy. Và chính khoảnh khắc đó khiến Nguyễn Thị Liên Hương đi đến một nhận thức trở thành nền tảng trong công việc của chị: “Khoảnh khắc ấy giúp tôi hiểu rằng dạy tiếng Việt không chỉ là dạy một ngôn ngữ mà còn lan tỏa tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam.”

Dạy tiếng Việt không chỉ là dạy một ngôn ngữ, mà còn lan tỏa tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam.

Bởi vậy, trong những cuốn sách dạy tiếng Việt mà chị tham gia biên soạn, dịch thuật và xuất bản, lịch sử, văn hóa và những câu chuyện của Việt Nam được lồng ghép vào bài học. Mục đích chị nói rất rõ: để người học “không chỉ biết tiếng Việt mà còn hiểu Việt Nam”. Cũng từ suy nghĩ đó, Nguyễn Thị Liên Hương tham gia đào tạo đội ngũ giáo viên tiếng Việt bậc tiểu học tại Đài Loan. Bởi theo chị, chính những giáo viên được đào tạo hôm nay sẽ tiếp tục đưa tiếng Việt tới nhiều thế hệ học sinh trong tương lai.

Chị cũng tham gia truyền thông tiếng Việt tại Đài truyền hình PTS, vừa đưa thông tin đến cộng đồng người Việt xa quê, vừa góp phần giới thiệu Việt Nam với bạn bè quốc tế. Trên cương vị Phó Ban điều hành Diễn đàn tiếng Việt và văn hóa Việt ở nước ngoài, chị còn kết nối những cộng đồng giảng dạy tiếng Việt ở nhiều quốc gia với các nhà nghiên cứu, chuyên gia và cơ quan trong nước.

Và trong lĩnh vực sách, dấu ấn của Nguyễn Thị Liên Hương cũng mang màu sắc rất rõ của một người làm giáo dục và nghiên cứu văn hóa. Chị từng tham gia biên soạn, chủ biên hơn 16 cuốn giáo trình tiếng Việt và sách về văn hóa Việt Nam xuất bản tại Đài Loan và Hoa Kỳ. Trong đó, Xin chào Việt Nam từng trở thành sách tiếng Việt bán chạy tại Đài Loan và đứng thứ hai trong bảng xếp hạng những sách ngoại ngữ mới xuất bản khi phát hành năm 2016. Chị cũng là đồng dịch giả của những tác phẩm văn học Việt Nam như Dế Mèn phiêu lưu ký, Lá cờ thêu sáu chữ vàng sang tiếng Trung.

Sau hơn 18 năm trực tiếp gắn bó với công việc giảng dạy tiếng Việt, khi được trao danh hiệu Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài năm 2026, điều Nguyễn Thị Liên Hương nói đến nhiều nhất vẫn là người học và hành trình phía trước: "Mình sẽ tiếp tục dành tâm huyết để giữ tiếng Việt ở lại trong tim những người con xa quê hương, đặc biệt là thế hệ F2, đồng thời sẽ cố gắng đưa tiếng Việt đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Bởi vì mình nghĩ chỉ cần các bạn có muốn học, có muốn nói tiếng Việt, còn cảm thấy yêu tiếng Việt, thì đó đã là một cách rất là đẹp để tiếng Việt được sống và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.”

Nói về tiếng Việt, một người nói đến “món quà”, “gốc rễ” với cội nguồn, cố hương. Một người nhớ rất kỹ khoảng cách tình cảm nằm giữa hai chữ “đi” và “về”, và mong người học dù ở quốc tịch nào cũng không chỉ “biết tiếng Việt” mà còn “hiểu Việt Nam”. Những cuốn sách mẹ con cùng làm, một giáo trình tiếng Việt mới xuất bản, một người giáo viên dạy tiếng Việt mới được đào tạo, hay đơn giản là khoảnh khắc một người nước ngoài không còn nói “tôi muốn đi Việt Nam”, mà mỉm cười nói: “Tôi muốn về Việt Nam”.

Đó có lẽ cũng là lúc Tiếng Việt không phải chỉ là ngôn ngữ được học, được dạy nữa.

Nó đã trở thành một phần của tình cảm, của nơi chốn neo về.