Trong kho tàng chất liệu hội họa Việt Nam, sơn ta – sơn mài là một hành trình văn hóa kéo dài hàng trăm năm. Từ lớp nhựa cây sơn mộc mạc, qua bàn tay người thợ, người hoạ sĩ, đã trở thành những tác phẩm lung linh, sâu thẳm, mang theo cả tinh thần và bản sắc Việt. Thế nhưng, ngày nay, khi nhiều chất liệu mới ra đời, nhanh hơn, tiện hơn, thì sơn ta – một chất liệu “khó tính”, chậm rãi và đòi hỏi sự kiên nhẫn lại đứng trước không ít thách thức.
Ít ai biết rằng, để có được một lớp sơn ta, người thợ phải dậy từ lúc chưa kịp hửng sáng, nhẹ nhàng khía vào thân cây để lấy nhựa. Khi mặt trời vừa ló thì cũng là lúc người thợ kết thúc công việc của mình. Phải đến hàng trăm cây sơn mới có thể thu được một lượng nhựa nhỏ bé, thứ nguyên liệu quý giá làm nên vẻ đẹp bền bỉ, sâu lắng của tranh sơn mài truyền thống.
Từ chỗ chỉ là lớp phủ bảo vệ cho đồ thờ, đồ dùng trong đình chùa, sơn ta đã bước vào hội họa từ đầu thế kỷ XX, trở thành một chất liệu độc đáo, mang đậm dấu ấn Việt Nam. Và với nhiều họa sĩ như hoạ sĩ Phạm Chính Trung, hành trình đến với sơn mài cũng là hành trình đi ngược dòng trở về với truyền thống để tìm kiếm một tiếng nói nghệ thuật riêng: “Ngành sơn ta thường làm tất cả những đồ vật trong đình chùa hoặc những đồ dùng sử dụng hằng ngày để tăng độ bền của sản phẩm, có một chút màu sắc trang trí như màu son, màu then, thiếp vàng, thiếp bạc. Đó là nghề sơn ngày xưa khi chưa có tên sơn mài. Từ năm 1932, một số hoạ sĩ của Trường Mỹ thuật Đông Dương kết hợp với 1 nghệ nhân về nghề sơn tên là Phó Thành để tìm ra kỹ thuật vẽ tranh sơn mài cho hội hoạ Việt Nam. Từ đó chất liệu sơn sử dụng cho hội hoạ lúc bấy giờ mới có tên là sơn mài. Nếu tôi nhớ không nhầm, từ năm 1958, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã có một bài viết chuyên về sơn mài. Ông có nói rằng trong khi hoạ sĩ ở nhiều nước khó khăn trong việc tìm chất liệu hội hoạ thì sơn mài Việt Nam là một chất liệu hội hoạ hoàn toàn mới và tạo ra sự hấp dẫn cho tất cả các hoạ sĩ”.
Không giống như sơn dầu nơi người nghệ sĩ có thể nhìn thấy ngay hình hài tác phẩm, tranh sơn mài lại là một hành trình ngược: vẽ rồi phủ, phủ rồi mài, để rồi hình ảnh dần dần hiện ra từ những lớp màu ẩn sâu bên trong. Chính sự “ẩn mình” ấy khiến sơn mài trở thành một chất liệu đầy thử thách vì người hoạ sĩ phải làm chủ kỹ thuật, thậm chí sáng tạo lại chính chất liệu mình đang sử dụng.“Về kỹ thuật sơn mài, như các cụ ngày xưa nói là ăn cơm trần gian nhưng làm việc âm phủ. Nó mù mịt… Khi làm chủ kỹ thuật thì mới điều khiển được theo ý tưởng của mình… Khi đã là một hoạ sĩ sơn mài thì phải kiêm là nhà sáng tạo chất liệu… Sáng tạo trong sơn mài là điều vô cùng cần thiết”.
Sơn mài vừa là câu chuyện của kỹ thuật, vừa là câu chuyện của thời gian. Một tác phẩm có thể mất hàng tuần, thậm chí hàng tháng để hoàn thiện. Mỗi lớp sơn, mỗi lần mài đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác và kiên nhẫn tuyệt đối. Bởi vậy, theo đuổi sơn mài cần một tình yêu bền bỉ, thứ giúp người nghệ sĩ đi đến cùng với chất liệu khó chiều này.
“Nghề sơn mài nói chung và trong hội hoạ nói riêng là một nét rất độc đáo… Nếu không giữ thì nó cứ bị mất dần… Một điều rất cơ bản là phải đam mê và thường xuyên theo nghề… tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ ngừng nghỉ để làm nghề này nữa”.
Với hoạ sĩ Phạm Chính Trung, đằng sau những bức tranh sơn mài là những câu chuyện đời sống, những mối gắn bó rất riêng từ gia đình, người thân và những khoảnh khắc đời thường. Vợ hoạ sĩ Chính Trung, hoạ sĩ Lưu Thanh Hà chia sẻ: “Nó cũng là cái duyên. Tôi cũng làm trong nghề… Hai vợ chồng cũng hỗ trợ được cho nhau về kỹ thuật… Anh Trung có rất nhiều bức tranh liên quan đến bàn tay của tôi… Có một thời gian vài năm, anh Trung say sưa với thiếu nữ búi tó, búi tóc, chải đầu”.
Nếu với thế hệ đi trước, sơn mài là hành trình gìn giữ, thì với thế hệ sau, đó còn là sự tiếp nối, đôi khi bắt đầu từ những điều rất vô tình. Có người như hoạ sĩ Đặng Phương Việt đến với sơn mài từ ký ức gia đình, từ những ngày thơ bé được nhìn, được học, được “ngấm” nghề mà không hay biết: “Tôi đến với sơn mài từ khi còn rất bé. Lúc đầu vẽ cùng bố để bố hướng dẫn kỹ thuật nhưng thông qua cuộc sống hằng ngày khi giúp bố thì kỹ thuật sơn mài đã ngấm vào tôi một ngày nào đó mà tôi không biết. Có một thời gian khá dài tôi học về sơn dầu và vẽ chủ yếu về sơn dầu. Rồi một ngày khi bố tôi mất, tôi mới nghĩ là trong nhà sẽ không còn ai vẽ được sơn mài. Ba anh em tôi đều là hoạ sĩ nhưng tôi là người duy nhất nắm bắt được kỹ thuật sơn mài được bố truyền lại. Đầu tiên là chuyển thể những tác phẩm còn dang dở của tôi sang tranh sơn mài. Để nắm bắt lại kỹ kỹ thuật nên tôi muốn vẽ lại những tranh mà tôi đã thuộc, đã yêu tồi đến những kỹ thuật phức tạp dần. Sơn mài đến với tôi vừa là vô tình vừa là cái gì đó ăn sâu vào tiềm thức của tôi”.
Giữa những lựa chọn chất liệu hiện đại, nhanh và tiện, việc quay trở lại với sơn ta, một chất liệu chậm, khó và nhiều rủi ro, là một lựa chọn không dễ dàng. Nhưng cũng chính từ lựa chọn ấy, nhiều họa sĩ đã tìm thấy con đường riêng của mình, nơi truyền thống không bị đóng khung, mà được tiếp biến trong những câu chuyện đương đại.
Họa sĩ Đặng Việt Phương chia sẻ: “Chung thuỷ với sơn mài truyền thống nhưng truyền thống của tôi đã được biến thiên trên những câu chuyện hiện đại của chính bản thân… tôi cũng vận dụng tất cả những gì học được… để đem lại cho người xem những tác phẩm sơn mài hiện đại”.
Ngày nay, tranh sơn mài không chỉ hiện diện trong không gian truyền thống, mà còn xuất hiện trong các triển lãm đương đại, trở thành một phần của đời sống nghệ thuật mới. Dẫu vậy, thách thức vẫn còn đó: sự cạnh tranh của vật liệu công nghiệp, sự thiếu hụt người theo nghề, và cả áp lực của một thị trường đòi hỏi nhanh – đẹp – rẻ. Trong bối cảnh ấy, mỗi họa sĩ gắn bó với sơn ta là một “người giữ lửa”, âm thầm bảo vệ một giá trị văn hóa đặc biệt.
Vietnamese
中文
日本語
한국어
Français
Русский
Deutsch
Español
Bahasa Indonesia
ไทย
ພາສາລາວ
ខ្មែរ