Từ trí thức, nhà văn, nhà thơ đến nhạc sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ sân khấu, những người làm nhiếp ảnh, điện ảnh…, một thế hệ với luồng gió tư tưởng mới của cách mạng, đã dấn thân đi cùng bộ đội và nhân dân, dùng ngòi bút, tác phẩm, tiếng hát, nét vẽ để góp sức cho cuộc kháng chiến giành lại tự do cho dân tộc.

Theo nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, sự nhập cuộc ngay lập tức của văn nghệ sĩ bắt nguồn từ nhận thức sớm về vai trò của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Ngay từ tháng 2/1943, khi đất nước chưa giành được độc lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Đề cương về văn hóa Việt Nam, trở thành ngọn đuốc tư tưởng lôi cuốn đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ và các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia phong trào cứu nước.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, dù nền độc lập còn non trẻ, đất nước phải đối mặt với nạn đói, nạn mù chữ và nguy cơ ngoại xâm, văn hóa vẫn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ xác định là một sức mạnh để củng cố lòng dân, xây dựng xã hội mới: "Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng phải xây dựng một nền văn hóa mới và tập hợp được các văn nghệ sĩ, các trí thức để làm sao gần trở thành như là một lực lượng sẽ góp phần vào để giữ vững nền độc lập non trẻ và để xây dựng được mội xã hội mới, được một thế hệ con người mới.” - Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân nói.

Từ năm 1945, cho đến năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc hình thành Hội Văn nghệ Việt Nam, tiền thân của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay. Đó là một chuyển biến quan trọng: văn nghệ sĩ không đứng ngoài vận mệnh đất nước mà đưa sáng tạo của mình vào công cuộc bảo vệ nền độc lập. Giai đoạn bước vào kháng chiến là một cuộc “nhận đường” của văn nghệ sĩ Việt Nam.

Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương PGS TS Nguyễn Thế Kỷ khẳng định, trước Cách mạng, văn học nghệ thuật tồn tại nhiều xu hướng khác nhau, nhưng khi kháng chiến bắt đầu, câu hỏi đặt ra không chỉ là viết gì, mà còn là đứng ở đâu, đi cùng ai. Ông nhắc tới truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao như một tác phẩm thể hiện rõ sự lựa chọn ấy: hướng người nghệ sĩ về phía nhân dân, đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với niềm tin vào thắng lợi: “Người ta nói Đôi mắt dường như gióng lên một hồi chuông để tập hợp, hay là để kêu gọi, thức tỉnh văn nghệ sĩ đi vào kháng chiến, đi về phía nhân dân, đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy hy sinh, gian khổ nhưng với niềm tin là nhất định thắng lợi.”

Sự “nhận đường” nhanh chóng chuyển thành hành động. Văn nghệ sĩ đi vào đời sống kháng chiến, đưa hiện thực chiến đấu vào tác phẩm,“các binh chủng của văn học nghệ thuật đều vào cuộc”. Những “Việt Bắc” của Tố Hữu, “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi....; trong văn xuôi có Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm vv... Mỹ thuật có nhiều họa sĩ thuộc thế hệ Trường Mỹ thuật Đông Dương; nhiếp ảnh, điện ảnh có những thước phim tư liệu đầu tiên về cuộc kháng chiến; sân khấu cũng có nhiều tác giả lừng lẫy như Thế Lữ, Lưu Quang Thuận vv…tham gia.

Theo PGS TS Nguyễn Thế Kỷ: "Có rất nhiều tác phẩm phản ánh cuộc kháng chiến, mà có lẽ hình tượng nổi bật nhất của thời kỳ chống Pháp, là hình tượng anh bộ đội cụ Hồ - người lính Vệ quốc quân. Đây là hình tượng đẹp nhất: “Anh Vệ Quốc Quân ơi/Sao mà yêu anh thế”. Đấy là lời nói của mọi người dân đối với người lính của chúng ta - với anh bộ đội cụ Hồ."

Qua các tác phẩm, hình tượng anh bộ đội, người nông dân, tình quân dân, tình yêu quê hương, đất nước trở thành những nguồn cảm hứng lớn. Văn học nghệ thuật không chỉ phản ánh chiến tranh, mà theo PGS TS Nguyễn Thế Kỷ, còn góp phần làm rõ tính nhân văn, nhân đạo của cuộc kháng chiến: bảo vệ độc lập, tự do, bảo vệ người dân, làng quê và phẩm giá con người.

Theo nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, văn nghệ sĩ còn góp phần đưa tinh thần kháng chiến lan tỏa qua báo chí, bài hát và các phương tiện truyền tải văn hóa lúc bấy giờ, ngay từ những ngày đầu cách mạng: “Phong trào của các văn nghệ sĩ ở trong kháng chiến cũng là những người trực tiếp là những chiến sĩ, là bộ đội Cụ Hồ, luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ: là xây dựng một nền văn hóa Việt Nam vừa có tính dân tộc, tính đại chúng và tính hiện đại. Từ đó, lực lượng càng lớn mạnh. Chính vì tư tưởng xây dựng một nền văn hóa có được sự toàn diện ấy, thì các nhà văn, các nhà thơ, các nhạc sĩ, các họa sĩ đã lên đường theo kháng chiến."

Một biểu hiện cao nhất của sự nhập cuộc là hình tượng “nghệ sĩ - chiến sĩ”, như lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ: “Văn học nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận đó”. Giới trí thức và văn nghệ sĩ đã góp sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp trên nhiều phương diện: Trước hết là sự lựa chọn đứng về phía nhân dân và tham gia kháng chiến; tiếp đó là tập hợp thành lực lượng, xây dựng đời sống văn hóa ngay trong hoàn cảnh chiến tranh. Bằng các tác phẩm văn học, âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, nhiếp ảnh, điện ảnh, họ phản ánh hiện thực, cổ vũ tinh thần yêu nước, khắc họa những con người của cuộc kháng chiến và góp phần bồi đắp niềm tin vào thắng lợi.

Từ một cuộc “nhận đường” của người trí thức, văn nghệ sĩ, kháng chiến chống Pháp đã tạo nên một thế hệ sáng tạo gắn số phận của mình với số phận đất nước. Qua đó, văn hóa, văn học nghệ thuật trở thành một phần của sức mạnh tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng thời duy trì mạch nguồn sáng tạo được nối tiếp mạnh mẽ trong kháng chiến chống Mỹ và tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các thế hệ văn nghệ sĩ đến hôm nay.