Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường, văn học và điện ảnh đã có sự chú ý hơn đến vấn đề môi trường, phát triển bền vững và tương lai văn hóa của cộng đồng. Trong những năm gần đây, cùng với sự ra đời của nhiều workshop, tọa đàm, hội thảo về phê bình sinh thái, văn học sinh thái ở nước ta không còn quá xa lạ.

Khái niệm “điện ảnh sinh thái” dường như có phần mới mẻ hơn. Nhưng đồng thời cũng đặt cho giới chuyên môn nhiều câu hỏi như: Ở Việt Nam đã có “điện ảnh sinh thái” hay chưa? Các tác phẩm điện ảnh ở Việt Nam, dưới góc nhìn phê bình sinh thái, đặt ra những câu hỏi gì về các vấn đề môi trường, phát triển bền vững và tương lai văn hóa của cộng đồng?... Tọa đàm “Từ phê bình sinh thái đến điện ảnh sinh thái tại Việt Nam: Những tiếp cận xuyên ngành” ít nhiều đã hé mở nhiều hướng tiếp cận mới mẻ trên đường đi tìm lời đáp cho những câu hỏi này.

PGS.TS Hoàng Cẩm Giang, nguyên Trưởng Bộ môn Nghệ thuật học, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng hiện nay điện ảnh Việt Nam đang phát triển trong một bối cảnh rất nhiều tiềm năng nhưng cũng rất phức tạp: “Bởi chúng ta đang đứng trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa. Và câu chuyện về căn tính, về bản sắc, rồi những xác lập về vấn đề cốt lõi ở trong xã hội như bất công sinh thái, mơ hồ sinh thái, mối quan hệ giữa những vấn đề thuộc về giai cấp, tầng lớp, giới… liên quan đến tự nhiên, đến môi trường… lại là những điều chúng ta chưa chú ý nhiều. Nên nhiều tác phẩm điện ảnh đang được công chiếu ở các rạp, trong đó có những tác phẩm bom tấn, thì những vấn đề về mơ hồ sinh thái hoặc nhận thức, định hướng của giới làm phim, của người sáng tác vẫn còn ở trong trạng thái gây tranh cãi. Câu chuyện là hiện nay giới hàn lâm học thuật có thể tiến gần và bàn về những vấn đề trực diện, những vấn đề rất nhức nhối, còn gây ra rất nhiều những khoảng trống và những băn khoăn cho cả giới sáng tác lẫn giới phê bình hay không?”

Những tham luận được trình bày với phạm vi trải rộng, không chỉ khảo sát các tác phẩm văn học, điện ảnh trong nước mà còn bàn đến văn học, điện ảnh Đông Á, Hollywood. Nhiều lí thuyết mới đã được áp dụng như phê bình sinh thái, nữ quyền sinh thái, mĩ học sinh thái, nghiên cứu văn hóa thị giác… Bằng số liệu và khảo sát thực tế, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề môi trường hiện diện ngày càng rõ ràng trong văn học và điện ảnh nước nhà.

Theo TS. Nguyễn Thị Năm Hoàng, tự sự về môi trường trong văn học và điện ảnh Việt Nam đã có bước chuyển rõ ràng: "Những năm gần đây câu chuyện về khủng hoảng môi trường toàn cầu đang là một vấn đề rất nhức nhối. Từ đó, mối quan tâm đến vấn đề môi trường, về sự cân bằng sinh thái và việc đặt ra những câu hỏi là con người của chúng ta thực sự chiếm một vị trí, một tầm vóc như thế nào trong hệ sinh thái và các dạng sống khác chiếm một vị trí như thế nào trong các tự sự về cuộc sống và hệ sinh thái nói chung. Có thể quan sát thấy một sự dịch chuyển của văn học và điện ảnh từ cách nhìn nhân loại trung tâm, tức là đặt con người ở trung tâm của tự sự, thì dần dần dịch chuyển sang tự sự mang tính chất cân bằng, lấy sinh thái - mà ở trong các nghiên cứu và lý thuyết về phê bình sinh thái gọi là tư tưởng sinh thái làm trung tâm chứ không phải là tư tưởng nhân loại trung tâm nữa.”

Trước đe dọa về biến đổi khí hậu và khủng hoảng sinh thái, văn học nghệ thuật đang tìm cách kể lại câu chuyện về con người trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên, từng bước kiến tạo một cảm quan mới về tự nhiên và đời sống sinh thái. Một loạt tác giả, tác phẩm đã được nhắc đến như “Khi khu vườn im lặng” của đạo diễn Nguyễn Mỹ Dung, “Sao Hỏa nơi đáy giếng” và “Nhà cây” của đạo diễn Trương Minh Quý, “Móng vuốt” của đạo diễn Lê Thanh Sơn, “Cu li không bao giờ khóc” của đạo diễn Phạm Ngọc Lân… Trong đó, “Trái đất không còn hiện ra như nơi con người cư ngụ mà như một nguồn để khai thác, quản trị và huy động đến mức vét kiệt nó. Ngay cả viễn tượng chinh phục không gian vũ trụ, nếu có thể trở thành hiện thực, cũng chưa chắc mở ra khả năng cứu rỗi nào cho nhân loại. Bởi nếu con người không học lại cách ở, nghĩa là học cách gìn giữ, chăm nom và cư ngụ trong sự hữu hạn của mình, thì mọi tiến bộ kĩ thuật rốt cuộc chỉ là sự mở rộng của quy mô mất gốc” (trích tiểu luận “Xây, Ở, Suy tư” của Martin Heidegger).

Thực tế cho thấy Việt Nam không thiếu những bộ phim khai thác chất liệu sinh thái. Tuy nhiên, TS. Ngô Viết Hoàn, trong tham luận “Từ mỹ học sinh thái đến thi pháp sinh thái: Đối thoại với điện ảnh sinh thái Trung Quốc và gợi dẫn cho phê bình điện ảnh Việt Nam”, cho rằng điều quan trọng không phải là bộ phim có khai thác chất liệu sinh thái hay không mà nằm ở chỗ tác phẩm đó khai thác chất liệu sinh thái như thế nào, có góp phần tạo ra thay đổi nhận thức cho người tiếp nhận hay không:

“Khi có khủng hoảng sinh thái, chúng ta thường nghĩ đến những vấn đề về biến đổi khí hậu, ô nhiễm, can thiệp tài nguyên hay sự suy giảm của đa dạng sinh học... Tuy nhiên thì ở một tầng sâu hơn, chúng tôi chú ý đến vấn đề khủng hoảng sinh thái còn là khủng hoảng của cách nhìn. Con người hiện đại đã quen nhìn tự nhiên như đối tượng nằm bên ngoài mình. Vậy nên phê bình sinh thái ở đây không chỉ dừng lại việc tố cáo môi trường bị hủy hoại mà cần phải đi xa hơn, truy vấn cái nhìn nào đã khiến sự hủy hoại ấy trở nên hợp lý.” - TS Ngô Viết Hoàn nói.

Tọa đàm “Từ phê bình sinh thái đến điện ảnh sinh thái tại Việt Nam: Những tiếp cận xuyên ngành” đã đem đến nhiều suy tư về cách nhìn, nghe và đọc văn học và điện ảnh. Từ đó, khơi gợi một cách sống phù hợp hơn với tự nhiên, để con người biết sợ hãi trước một viễn cảnh không nơi trú ngụ, như nhà thơ Đặng Bá Tiến đã từng viết: “Giờ ta về giữa rừng xưa/ hồn không chỗ trú/ nắng mưa ngút trời/ xót xa!/ ta hỏi một lời:/ rừng tàn/ sông cạn/ rồi người về đâu?”.