Độc đáo các loại bánh của người Giáy

(VOV5) -  Với đồng bào dân tộc Giáy, những chếc bánh chưng, bánh khảo, bánh bỏng là món không thể thiếu được trong mâm đồ cúng vào mỗi dịp lễ tết, ma chay, cưới xin, lễ lạt... Các loại bánh này được người Giáy dâng lên tổ tiên là để báo cáo thành quả lao động trong một năm qua, đồng thời cầu xin tổ tiên ban cho sức khỏe, sự may mắn, có một vụ mùa bội thu. Để chuẩn bị làm các món bánh cúng tổ tiên, đồng bào chuẩn bị rất kỹ càng và cẩn thận. Họ quan niệm những đồ dâng lên tổ tiên phải thật sạch sẽ và thành kính như vậy mới được ghi nhận và không bị trách mắng.


Độc đáo các loại bánh của người Giáy  - ảnh 1
Trong mâm cỗ cúng rằm của người Giáy không thể thiếu những chiếc bánh bánh rợm. Ảnh: Internet


Nghe nội dung chi tiết tại đây:



Khác với chiếc bánh chưng vuông vắn của người Kinh, bánh chưng của đồng bào Giáy có hai đầu thon, phần giữa bánh phình to, nên bánh còn có tên gọi là bánh gù. Các bậc cao niên cho biết để làm được chiếc bánh chưng khá kỳ công, nguyên liệu làm bánh phải được chọn lựa kỹ càng. Lá dong để gói bánh phải là loại lá được lấy ở trên rừng, khổ lá vừa phải, lúa nếp nương phải là thứ nếp thơm ngon đều hạt do bà con tự cấy, nhân đỗ xanh đãi sạch vỏ. Phần quan trọng không thể thiếu là lựa chọn thịt lợn, phải là thịt ba chỉ thái mỏng, ướp với gia vị và thảo quả nướng. Khi nguyên vật liệu đã chuẩn bị đầy đủ, các chị, các mẹ bắt đầu gói bánh. Quá trình gói bánh phải thật khéo léo, nếu không sẽ làm bánh không chặt, rơi gạo ra ngoài và không có hình dạng đẹp, thịt lợn làm nhân bánh cũng phải được dàn đều sao cho khi ăn, bánh cắt đến đâu cũng phải có thịt trong từng miếng đến đấy. Chị Hoàng Thị Bích, ở thôn Luồng Đơ, xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cho biết: "Bánh phải có phần gù càng cao, càng cân đối thì càng đẹp. Nhìn bánh là thấy được người phụ nữ đó khéo hay không. Bánh đẹp để thờ cúng tổ tiên. Mỗi lần thắp hương phải có 7 chiếc. Sau 2 ngày mới được hạ bánh khỏi bàn thờ".

Khi gói, bánh được đặt trên bàn, người Giáy kiêng đặt bánh lên đùi vì họ cho rằng khi để bánh lên đùi luộc bánh sẽ không chín được. Bánh gói xong sẽ được xếp vào nồi ngâm khoảng 3-4 tiếng rồi mới luộc. Lửa luộc bánh lúc nào cũng phải cháy đều. Bánh được luộc trong khoảng 10 tiếng. Khi bánh chín, những chiếc bánh đầu tiên vớt ra được đem bày lên bàn thờ tổ tiên, bàn thờ thổ công trước.

Trong mâm cỗ của người Giáy không thể thiếu món bánh bỏng bùi bùi, thơm ngon. Món bánh này cũng thường được bà con làm để ăn trong những ngày Tết. Gạo để làm bánh bỏng được lựa chọn rất kỹ, phải là hạt gạo tròn, đều hạt thì bánh mới ngon, mới đẹp. Ông Hoàng A Mâu, người Giáy ở Bát Xát, Lào Cai, giới thiệu cách làm món bánh bỏng: "Gạo đồ thành xôi, chín tới rồi rắc bột vào cho các hạt gạo không dính vào nhau. Sau đó người ta ép nhẹ cho hạt gạo mỏng dẹt rồi phơi khô để hạt không bị mốc. Gần đến ngày làm cỗ thì rang lên rồi trộn với đường phên."

Gạo rang sau khi trộn đường được đơm vào một bát to để làm khuôn, đắp lên thành chóp cao để đặt lên bàn thờ tổ tiên. Chiếc bánh bỏng thơm hương nếp, ngọt ngào vị đường phên làm từ mật mía, thơm nồng hương nước cốt gừng, mang những hương vị đặc biệt mà không vùng quê nào có được.

Bánh khảo thường được bà con dân tộc Giáy làm vào dịp Tết. Họ làm bánh vào khoảng ngày 26, 27 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch) để thiết đãi bạn bè, mời khách, hay làm quà cho nhau trong những ngày Tết. Về cơ bản, những bước đầu làm bánh khảo cũng giống như làm bánh bỏng. Tuy nhiên, gạo sau khi rang kĩ được đem nghiền thành bột mịn rồi mang đi "hạ thổ" khoảng 2 đến 3 ngày để bột nở ra. Chị Vi Thị Thanh, ở Luổng Láo, Cốc San, cho biết: "Đem bột trộn với đường phên. Đường cũng phải giã cho mịn. hai cái này phải trộn đều lên cho đến lúc bột dính mới được. Lấy chai hoặc là cây gỗ tròn cán qua cán lại cho bột nhuyễn, ngấm đường là được. Xong rồi dùng khuôn hoặc dùng chén làm khuôn đóng bánh lại".

Các loại bánh của đồng bào Giáy đều được làm từ các nguyên liệu do chính họ làm ra, có như vậy mới thể hiện được sự tôn kính đối với ông bà, tổ tiên. Cách làm bánh truyền thống được người Giáy truyền từ đời này qua đời khác và đến nay vẫn được gìn giữ như một nét văn hóa của dân tộc mình./.           

Phản hồi

Tin liên quan
Các tin/bài khác