Nghe âm thanh tại đây:

Làng Bàu Trúc ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa thường được biết đến nghề làm gốm. Ít ai biết được nơi đây còn một hộ gia đình vẫn âm thầm gìn giữ nghề xưa của dân tộc Chăm, đó là nghề chạm bạc. Đây gần như là nơi duy nhất làm ra những đồ vật chạm khắc tinh xảo dùng trong các lễ nghi của người Chăm.

Đó là tiếng chạm khắc bạc của gia đình ông Đinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm ở thôn Bàu Trúc, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa. Bên hiên nhà, chị Kinh Thị Mộng Ngưng, người con gái duy nhất của ông Cần và bà Trâm, đang nối nghiệp tổ tiên. Không dùng máy móc, chỉ có cái đục và cây búa, trong chốc lát chị đã tạo nên hình hài của sản phẩm. Tiếng chạm bạc giờ cũng đã trở nên thân thuộc trong nhịp sống mỗi ngày của gia đình chị Kinh Thị Mộng Ngưng.

“Đầu tiên học nghề, chạm mãi mà cũng không được. Nhưng mỗi ngày cố gắng làm, nghề này cần chịu khó và kiên trì mới làm được. Khó nhất là khâu chạm miệng khay trầu. Mẹ tôi tay nghề tốt, khâu nào cũng làm được, còn bố tôi chủ yếu phụ trách khâu lắp ráp, làm thành phẩm. Gia đình mong muốn con cháu sau này có người theo học, nếu không là mất nghề.”

Trước đây, những vật phẩm được làm hoàn toàn bằng bạc ròng nhưng do giá bạc ngày càng tăng, cho nên có nhiều sản phẩm được thay thế bằng nhôm hoặc đồng để phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân. Tuy chất liệu thay đổi nhưng các thợ vẫn gìn giữ nguyên vẹn những hoa văn truyền thống và giá trị văn hóa Chăm được chạm trổ trên sản phẩm. Theo kinh nghiệm từ xưa, khó nhất của nghề chạm bạc là công đoạn chạm trổ. Người thợ phải tập trung cao độ, thực hiện từng đường nét chính xác bằng tâm huyết để tạo nên những họa tiết, như: rồng, phượng, hoa lá cách điệu hay các biểu tượng văn hóa đặc trưng của người Chăm. Những sản phẩm chạm bạc là các vật dụng, như: khay trầu, hộp đựng trầu, ống nhổ trầu, mâm… Đó là các vật dụng được người Chăm sử dụng trong lễ hội Katê, Ramưwan, các nghi lễ vào đầu năm hay đám cưới, đám hỏi...

Ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm, năm nay dù đã ngoài 70 tuổi, nhưng hằng ngày ông bà vẫn miệt mài, cặm cụi làm nghề. Bà Đàng Thị Mỹ Trâm cho biết: “Đầu tiên là bố làm nghề chạm bạc, sau đó truyền lại cho tôi. Sau này tôi có chồng, rồi truyền nghề lại cho chồng. Khi bố mất, vợ chồng nối nghiệp gia đình làm nghề đến nay. Sản phẩm gia đình làm ra, có người tới mua đem đi bán ở nhiều nơi, ngoài tỉnh Khánh Hòa cũng có. Nhờ có nghề chạm bạc mà gia đình tôi nuôi được 9 đứa con ăn học, giờ thì các con đã trưởng thành.”

Nhờ sự tinh tế, thẩm mỹ trong từng sản phẩm, cộng với uy tín trong nghề, nên sản phẩm làm ra của gia đình ông Kinh Văn Cần không chỉ đắt hàng tại tỉnh Khánh Hòa mà còn được ưa chuộng ở các tỉnh khác, như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Anh Bá Minh Truyền, cán bộ Bảo tàng Khánh Hòa, cho biết nghề chạm bạc của người Chăm nổi tiếng trước đây, nay đã mai một, may mắn còn lại một gia đình người Chăm ở làng Bàu Trúc còn giữ nghề: “Đối với người Chăm, những vật dụng chạm khắc bằng bạc rất quan trọng. Ví dụ như những khay đựng trầu cau, hộp đựng trầu cau, lư lửa… đó là những vật dụng mà người Chăm rất trân trọng, vào dịp cúng kính mới mang ra đựng lễ vật để dâng cúng cho ông bà, tổ tiên. Qua đó, thể hiện sự trân trọng đối với thần linh, ông bà, tổ tiên.”

Xã Ninh Phước có hai làng nghề truyền thống nổi tiếng là nghề làm gốm ở làng Bàu Trúc và nghề dệt thổ cẩm ở làng Mỹ Nghiệp. Riêng tại làng Bàu Trúc còn có thêm nghề chạm khắc bạc cũng nổi tiếng. Hiện nay, địa phương đang định hướng bảo tồn và đưa nghề chạm bạc này kết hợp cùng gốm Bàu Trúc và dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp vào chương trình phát triển du lịch cộng đồng.

Ông Đàng Chí Quyết, Bí thư Chi bộ làng Bàu Trúc, bày tỏ: “Mong chính quyền các cấp, các ngành quan tâm đến chính sách đào tạo nghề, cũng như tạo điều kiện để làm hồ sơ công nhận vợ chồng ông Cần bà Trâm là Nghệ nhân Ưu tú. Từ đó, động viên, khích lệ tinh thần ông bà, góp phần truyền dạy lại nghề chạm bạc cho thế hệ sau này.”

Nghề chạm bạc tại làng Bàu Trúc là nghề thủ công lâu đời và độc đáo. Dù không phổ biến như nghề gốm truyền thống, nghề chạm bạc vẫn được lưu giữ qua nhiều thế hệ, đóng vai trò thiết yếu trong việc chế tác các vật phẩm phục vụ đời sống tâm linh và tín ngưỡng của dân tộc Chăm.