Những gian hàng nhỏ xinh bày mâm cỗ Tết truyền thống của người Hà Nội xưa với màu xanh của bánh chưng, màu đỏ của xôi gấc, màu vàng của thịt gà, màu trắng của dưa hành…; không gian đậm chất Việt với thú thưởng trà tao nhã nhâm nhi mứt Tết; hay những tiếng chày giã giò đều đều, bếp lửa đỏ rực nấu bánh chưng … để lại ấn tượng thú vị đối với bạn bè quốc tế.
Tham quan các gian hàng ẩm thực, thưởng thức món chè lam, mứt gừng giòn thơm cùng với chén trà xanh đã giúp Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ Korhan Kemik hiểu hơn về phong tục truyền thống của người Việt. Đại sứ cho biết: "Tôi rất vui khi được có mặt ở đây, được đón Tết của Việt Nam. Tôi nhận thấy Việt Nam có một nền văn hóa rất phong phú, đậm đà bản sắc, với những truyền thống lâu đời và nền ẩm thực rất tuyệt vời. Tết chính là minh chứng rõ ràng cho tất cả những điều đó, khi kết hợp giữa văn hóa giàu bản sắc, các món ăn ngon và những giá trị tinh thần, đặc biệt là giá trị gia đình - mọi người quây quần bên nhau, cùng ngồi ăn quanh bàn, điều này khá giống với văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ".
Bà Urawadee Sriphiromya, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Thái Lan tại Việt Nam, chia sẻ sự thích thú khi được trải nghiệm gói bánh chưng với lá dong xanh mướt cùng gạo nếp, thịt lợn, đỗ xanh.
Đại sứ Thái Lan chia sẻ: "Tôi được trải nghiệm không khí của ngày Tết và có thể cảm nhận rằng mùa xuân đang đến: hoa đào nở rộ mang theo một khởi đầu cho năm mới. Năm nay là năm con Ngựa, và tôi tin rằng năm mới sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp, sự thịnh vượng cho mọi gia đình cũng như cho toàn thể người dân Việt Nam. Tôi cũng tham gia và trải nghiệm các hoạt động truyền thống, được thưởng thức bánh chưng truyền thống và cảm nhận được sự háo hức của mọi người khi Tết đến. Tôi tin rằng thế hệ trẻ sẽ tiếp tục trân trọng những giá trị truyền thống này và gìn giữ, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo".
Không những được tham quan các không gian ẩm thực truyền thống mà bạn bè quốc tế còn trực tiếp làm tranh Đông Hồ; chiêm ngưỡng nghệ nhân nặn tò he truyền thống; tham gia viết thư pháp và xin chữ đầu năm mới; trực tiếp,..
Tại gian hàng thư pháp, trong khi phu nhân Đại sứ Ukraine tại Việt Nam xin hai chữ “Hòa bình”, thì Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Belarus tại Việt Nam, ngài Uladzimir Baravikou lại bày tỏ sự hào hứng khi trực tiếp tạo ra một bức tranh dân gian Đông Hồ.
Đại sứ Belarus tại Việt Nam chia sẻ: "Theo trải nghiệm của tôi, Tết Việt Nam là ngày lễ thú vị và sôi động nhất. Dịp này có rất nhiều lễ hội truyền thống và các hoạt động thủ công đặc sắc, đồng thời mang đến cho chúng tôi cơ hội được cố gắng hết mình để tham gia và hòa nhập vào văn hóa Việt Nam. Tôi đã thử hai hoạt động: tự tay làm một bức tranh và thưởng thức món xôi truyền thống. Hơn nữa, tôi còn có cơ hội làm một điều mà trước đây tôi chưa từng làm bao giờ. Qua đó, tôi cảm nhận được sự chăm chỉ trong lao động của người Việt Nam, đồng thời cũng thấy được tinh thần lạc quan và niềm vui của họ. Người Việt Nam làm việc rất chăm chỉ nhưng vẫn luôn yêu đời, và Tết mang ý nghĩa của một khởi đầu mới và trân trọng những cơ hội trong cuộc sống".
Các trò chơi dân gian với những tiết mục giao lưu văn nghệ độc đáo được tái hiện trong không gian Tết Việt tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội không chỉ tạo không khí vui tươi, mà còn là nét đẹp văn hóa giúp gắn kết tình đoàn kết, hữu nghị với bạn bè quốc tế.
Năm vừa qua có thể coi là một năm ghi nhiều dấu ấn của văn hóa Việt Nam trên bản đồ văn hóa quốc tế, khi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi danh thêm 7 hồ sơ di sản mới của Việt Nam, nâng tổng số danh hiệu UNESCO tại Việt Nam lên 77 tại tất cả 34 tỉnh, thành phố, đứng đầu các nước Đông Nam Á. Không dừng ở đó, văn hóa Việt Nam còn tỏa sáng qua âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực, thời trang, lối sống, với công nghệ sáng tạo, di sản được số hóa và nghệ thuật dân gian được làm mới.
Có thể nói, văn hóa Việt Nam đang bước ra thế giới đầy chủ động, tự tin, được đón nhận, ghi nhận và thu hút sự chú ý của thế giới. Minh chứng cho điều này, trong những ngày cuối năm Ất Tỵ, trang mạng của UNESCO đã đăng thông điệp của tổ chức này chúc mừng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam để hiểu rõ hơn về quan điểm của UNESCO về tầm nhìn này của Việt Nam.
Phóng viên: Thưa ông, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Việt Nam xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là "nguồn lực nội sinh quan trọng, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững". Dưới góc độ của UNESCO, ông đánh giá như thế nào về quan điểm này trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức về xung đột giá trị và cạnh tranh văn hóa hiện nay?
Ông Jonathan Wallace Baker: UNESCO hoan nghênh tầm nhìn thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW. Việc xác định văn hóa là một nguồn lực cốt lõi và trụ cột của phát triển cho thấy Việt Nam đã đặt con người, các giá trị và bản sắc văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển dài hạn của quốc gia.
Trong bối cảnh bất ổn địa chính trị gia tăng và nhu cầu tăng cường gắn kết giữa các nền văn hóa ngày càng trở nên cấp thiết, cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi: Thứ nhất, văn hóa góp phần củng cố sự gắn kết xã hội và khả năng chống chịu, đồng thời giúp các xã hội thích ứng với thay đổi mà không đánh mất định hướng phát triển, hướng tới một mô hình phát triển vừa phát huy nội lực, vừa hội nhập quốc tế. Thứ hai, việc đặt văn hóa song hành cùng các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường hoàn toàn phù hợp với nỗ lực toàn cầu hiện nay nhằm khẳng định văn hóa như một trụ cột độc lập của phát triển bền vững sau năm 2030.
Từ góc nhìn của UNESCO, Nghị quyết 80 – NQ/TW đã đưa ra một lộ trình chính sách cho tiến trình đổi mới mang tính cơ cấu trong lĩnh vực văn hóa, hướng tới huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy kinh tế sáng tạo và bảo vệ sự đa dạng văn hóa. Đây là sự tiếp nối hợp lý của truyền thống lâu đời coi trọng văn hóa của Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng để quốc gia ứng phó hiệu quả với những thách thức của kỷ nguyên số và bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.
Phóng viên: Một trong những mục tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, nhằm đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hướng tới đạt mục tiêu 9% vào năm 2045. Ông nhận định thế nào về tiềm năng của Việt Nam trong việc hiện thực hóa con số này?
Ông Jonathan Wallace Baker: Từ kinh nghiệm quốc tế của UNESCO, việc theo đuổi những mục tiêu như vậy đòi hỏi cam kết chính trị bền bỉ và tầm nhìn dài hạn. Việt Nam có nhiều nền tảng thuận lợi. Thứ nhất, là cam kết chính trị rõ ràng, khi các ngành công nghiệp văn hóa đã được lồng ghép vào các định hướng chính sách ở cấp cao. Thứ hai, Việt Nam có hệ thống vững chắc các danh hiệu được UNESCO công nhận, qua đó nâng cao được sự nhận diện quốc tế, đồng thời hỗ trợ được các địa phương trong công tác bảo vệ di sản gắn với phát triển bền vững. Thứ ba, Việt Nam có một cộng đồng sáng tạo ngày càng năng động và tự tin, đặc biệt là giới trẻ. Cuối cùng, là vai trò và uy tín quốc tế ngày càng tăng, thể hiện qua việc Việt Nam tham gia các cơ chế quản trị của UNESCO và đóng góp tích cực vào các chương trình nghị sự văn hóa toàn cầu.
Để chuyển hóa những tiềm năng này thành đóng góp kinh tế thực chất, UNESCO khuyến nghị Việt Nam tập trung vào xây dựng các hệ sinh thái sáng tạo, gắn sáng tạo với phát triển kỹ năng, thị trường và sinh kế bền vững; đầu tư vào con người thông qua giáo dục, đào tạo và các không gian sáng tạo phù hợp, để tài năng có thể phát triển lâu dài; thúc đẩy du lịch bền vững và tôn trọng các giá trị văn hóa, bảo đảm tăng trưởng gắn với bảo tồn di sản và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương; tăng cường các mô hình hợp tác công - tư - cộng đồng, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cùng chia sẻ trách nhiệm, lợi ích trên cơ sở các khuôn khổ quản trị rõ ràng, minh bạch.
Phóng viên: Nghị quyết 80- NQ/TW đặt ra các mục tiêu cụ thể về Sức mạnh mềm cũng như số lượng di sản văn hóa mà Việt Nam đạt được vào năm 2045. UNESCO sẽ đồng hành với Việt Nam ra sao để các danh hiệu văn hóa này mang lại giá trị thực chất?
Ông Jonathan Wallace Baker: UNESCO luôn nhấn mạnh rằng các danh hiệu không phải là đích đến cuối cùng. Điều quan trọng nhất là những danh hiệu này được phát huy để tạo ra giá trị lâu dài cho con người và cộng đồng. Trong thời gian tới, UNESCO sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trên ba hướng trọng tâm. Thứ nhất, là nâng cao hiệu quả bảo vệ và quản lý di sản, thông qua việc hỗ trợ các đối tác quốc gia và địa phương để tăng cường sự phù hợp của các quy định với các chuẩn mực quốc tế, mở rộng áp dụng Đánh giá Tác động di sản, tăng cường hợp tác giữa các nhà quản lý, chuyên gia và cộng đồng. Thứ hai, là thúc đẩy du lịch bền vững thông qua hợp tác cùng khu vực tư nhân, chính quyền địa phương và người dân để phát triển các mô hình du lịch có trách nhiệm, vừa bảo vệ di sản, vừa khuyến khích sáng tạo và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Thứ ba, là chia sẻ và lan tỏa các thực hành tốt tới quốc tế, thông qua các cơ chế của UNESCO về Di sản Thế giới và Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo, qua đó giúp Việt Nam nâng cao tiếng nói và mức độ hiện diện trên trường quốc tế.
Khi Nghị quyết 80 đi vào cuộc sống, văn hóa sẽ thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc. Ảnh minh hoạ: VOV |
Nghị quyết 80-NQ/TW đã mở ra một không gian mới cho sáng tạo văn hóa, với nền tảng là tinh thần và bản sắc dân tộc. Đó là một không gian mà từ những nghệ nhân, nghệ sỹ, những nhà quản lý văn hóa, cho đến những doanh nhân tiên phong trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa… đều đang đón đợi với niềm tin vững chắc.
“Bên cạnh việc gìn giữ thì chúng ta phải phát huy. Đối với tôi, văn hóa là một sự tiếp biến còn nghệ thuật là sự giao thoa nhưng nó phải trụ vững trên tinh thần dân tộc. Đấy mới là yếu tố trường tồn nhất.
“Những chuyển biến vừa qua vô cùng quan trọng, thậm chí là mang tính bước ngoặt cho hoạt động quản lý và khai thác những giá trị di sản của Việt Nam. Chúng ta phát huy các giá trị sáng tạo từ các di sản văn hóa, để di sản văn hóa của chúng ta không chỉ ngủ yên, nằm kỹ mà thực sự trở thành cái giá trị sáng tạo, một giá trị giúp cho chúng ta nâng tầm văn hóa dân tộc”
“Với những người thợ như chúng tôi, được nghe về Nghị quyết này thì rất vui. Cái vui thứ nhất là chúng tôi được làm nghề và được gắn liền với nghề hơn lúc nào hết, và lại được Chính phủ lại quan tâm. Đối với làng nghề thì có thêm công ăn việc làm. Đối với những người thợ thì được thỏa sức sáng tạo và những văn hóa từ xưa đến nay, từ các triều đại để lại được chúng ta cùng nhau gìn giữ”.
“Ngay từ trụ cột đã là một tư duy có lẽ là vừa táo bạo, vừa vượt lên trước cả Liên hợp quốc, bởi vì Liên hợp quốc bây giờ chỉ đưa ra 3 trụ cột của phát triển bền vững, gồm: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường và văn hóa phải ẩn trong xã hội. Theo tôi biết, Liên hợp quốc bây giờ cũng đang chuẩn bị tách văn hóa ra thành một trụ cột mới. Do đó, văn kiện của Đảng và Nghị quyết này (80-NQ/TW) đã đi trước đón đầu quan điểm này”
“Điểm tựa vững chắc nhất, dễ chạm nhất, dễ lay động nhất là điểm tựa về văn hóa. Chúng tôi nghĩ rằng có thể mang lại sự lay động nhất cho khán giả. Các bạn trẻ rất yêu văn hóa, rất yêu cội nguồn dân tộc. Chỉ cần chúng ta mang điều đó đến cho các bạn bằng đúng cách mà các bạn mong muốn thì đây là điều lan tỏa rất mạnh mẽ. Nó sẽ là định hướng để cho những nhà sản xuất có thể lấy đó như một kim chỉ nam”.
Cùng với sự đi lên của sức mạnh tổng thể quốc gia, văn hóa Việt Nam đang từng bước xác lập được chỗ đứng trên bản đồ văn hóa thế giới, chiến lược văn hóa Việt Nam được nghiên cứu và gợi mở như một tầm nhìn có giá trị để soi chiếu. Ở chiều ngược lại, văn hóa cũng đang ngày càng trở thành vũ khí quan trọng của nền ngoại giao quốc gia.
Chương trình Xuân quê hương 2026 tại Malaysia. Ảnh: Viên Luyến/TTXVN |
Văn hóa – Vũ khí tâm công của ngoại giao Việt Nam
Nhằm phát huy tối đa sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, Chiến lược Ngoại giao văn hóa Việt Nam đến năm 2030 đã khẳng định vai trò của ngoại giao văn hóa như một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao hiện đại, toàn diện, chuyên nghiệp, song hành cùng ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Văn hóa chính là “cánh cửa mềm” giúp Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế, lan tỏa hình ảnh con người Việt Nam thân thiện, nhân ái, sáng tạo và giàu khát vọng vươn lên.
Ngoại giao văn hóa theo Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 không dừng lại ở việc giới thiệu những giá trị vốn có, mà hướng tới chủ động hội nhập và đóng góp, thông qua việc tham gia ngày càng sâu hơn vào các diễn đàn văn hóa quốc tế. Qua đó, khẳng định Việt Nam không chỉ là người tiếp nhận, mà còn là một đối tác có trách nhiệm trong đời sống văn hóa toàn cầu.
Thứ trưởng Ngoại giao Ngô Lê Văn. Ảnh: An Đăng/vufo.org.vn |
Theo Thứ trưởng Ngoại giao Ngô Lê Văn, hội nhập văn hóa trong kỷ nguyên mới là một tiến trình vừa mở cửa, vừa gìn giữ. Đó là quá trình chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời khẳng định và lan tỏa những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Hội nhập, nhưng không hòa tan; tiếp biến, nhưng vẫn giữ vững cốt cách văn hóa dân tộc.
“Ngoại giao Việt Nam nói chung, ngoại giao văn hóa nói riêng, đang đứng trước một sứ mệnh lịch sử, đòi hỏi bước chuyển tương xứng với tầm vóc chiến lược của thời kỳ mới. Chúng ta đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ động và hiệu quả tại các diễn đàn đa phương, song phương về văn hóa, để quốc tế hóa nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại vào Việt Nam. Qua đó, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia và đóng góp xứng đáng cho văn minh nhân loại.”
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, văn hóa không còn “đi chậm phía sau”, mà phải trở thành một nguồn lực quan trọng cho phát triển. Những sản phẩm văn hóa mang bản sắc Việt, được kể bằng ngôn ngữ hiện đại và công nghệ mới, đang mở ra cơ hội để hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với thế giới, nhất là với thế hệ trẻ toàn cầu.
Ông Nguyễn Thái Hiệp, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Bảo tồn Văn hóa Nghệ thuật Đông Nam Á, cho rằng: “Tăng cường giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới để bản sắc dân tộc vừa được gìn giữ, vừa được bồi đắp trong quá trình hội nhập. Việc phát huy giá trị văn hóa sẽ trở thành cầu nối quan trọng, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới”
Một điểm nhấn quan trọng khác trong Chiến lược là vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 5 triệu kiều bào chính là những “đại sứ văn hóa” tự nhiên và gần gũi nhất. Việc gìn giữ tiếng Việt, phong tục, truyền thống trong cộng đồng, đồng thời lan tỏa các giá trị văn hóa Việt tại nước sở tại, đã và đang góp phần làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên sống động và chân thực hơn trong mắt bạn bè quốc tế.
Ngoại giao văn hóa theo Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên trì, sáng tạo và phối hợp đồng bộ. Nhưng đó cũng chính là con đường để Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không hòa tan, để mỗi giá trị truyền thống khi ra thế giới vẫn giữ được cốt cách riêng, đồng thời làm giàu thêm bức tranh đa sắc của văn hóa nhân loại.
Chương trình giao lưu văn hoá Việt Nam - Nhật Bản tại Triển lãm Thế giới - World EXPO 2025 (Osaka, Nhật Bản). Ảnh: baovanhoa.vn |
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng khẳng định: “Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, chuyển đổi toàn diện tư duy từ giao lưu, gặp gỡ sang hợp tác thực chất, lấy sức mạnh tổng hợp quốc gia làm nền tảng để viết tiếp câu chuyện Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Văn hóa Việt Nam là cội nguồn bản sắc, là sức mạnh mềm để hội nhập, giúp Việt Nam khẳng định bản lĩnh, lan tỏa giá trị và tạo dựng vị thế riêng trong dòng chảy văn hóa toàn cầu.”
Với tư duy chuyển mạnh từ giao lưu đơn thuần sang hợp tác thực chất; từ giới thiệu cái mình có sang cùng sáng tạo, cùng đóng góp, Việt Nam không chỉ là người kể câu chuyện của chính mình, mà còn là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng văn hóa quốc tế, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, chung tay bảo tồn di sản, thúc đẩy đa dạng văn hóa và phát triển bền vững.
Hội nhập văn hóa trong kỷ nguyên mới vì thế không phải là sự đánh đổi, mà là hành trình làm giàu. Làm giàu cho bản sắc dân tộc từ tinh hoa nhân loại, và làm giàu cho thế giới bằng những giá trị riêng có của văn hóa Việt Nam. Và chính trên hành trình ấy, văn hóa sẽ tiếp tục là điểm tựa tinh thần, là sức mạnh mềm bền bỉ, giúp Việt Nam tự tin hội nhập, vững vàng khẳng định bản lĩnh và vị thế của mình trong dòng chảy văn hóa toàn cầu.
Trong kỷ nguyên mới, câu chuyện hội nhập văn hóa của Việt Nam đang tiếp tục hành trình bền bỉ nhưng đầy sáng tạo. Đó là hành trình giữ hồn cốt dân tộc giữa nhịp sống toàn cầu, để Việt Nam không chỉ hội nhập thành công, mà còn được nhận diện, được trân trọng bằng chính bản sắc văn hóa của mình.