Nge âm thanh tại đây:
Mỗi độ Tết đến Xuân về, trong ký ức của nhiều gia đình xứ Huế xưa, bên cạnh bánh tét, mâm ngũ quả, câu đối đỏ, còn có những bộ Liễn làng Chuồn – tranh chữ in từ mộc bản, treo trang trọng trên bàn thờ, gửi gắm ước vọng về phúc – lộc – an khang. Liễn làng Chuồn (nay là làng An Truyền, phường Mỹ Thượng, TP Huế) từng là một trong ba dòng tranh dân gian nức tiếng của Cố đô bên cạnh tranh làng Sình và tranh Tây Hồ. Sau hơn nửa thế kỷ thất truyền, dòng tranh này đã được nhóm dự án “Phường bách nghệ” và “Về làng” do anh Ngô Quý Đức, người đã có gần 20 năm gắn bó với nhiều làng nghề truyền thống Việt Nam, khởi xướng phục dựng thành công nhờ sự kết nối tri thức liên vùng: kỹ thuật khắc gỗ tinh xảo từ làng Thanh Liễu (Hải Dương) và nghệ thuật in màu thủ công từ các làng tranh Đông Hồ, Hàng Trống.
Bộ mộc bản Liễn Ngũ sự và hình tượng “Hạc ngự lưng Quy” do nhóm dự án “Phường bách nghệ” và “Về làng” phục dựng |
Dòng tranh dân gian in mộc bản truyền thống đặc sắc của xứ Huế nổi tiếng với các câu đối, đại tự (chữ Phúc, Thọ) trên nền giấy hồng điều thường mang ý nghĩa cầu chúc may mắn, thịnh vượng.
Anh Ngô Quý Đức, người khởi xướng dự án phục dựng Liễn làng Chuồn. |
Anh Ngô Quý Đức cho biết: “Liễn làng Chuồn là một dòng tranh chữ, dùng để trang trí ban thờ hay phòng khách, có ý nghĩa giáo dục con cháu qua những bộ chữ, những câu đối gửi gắm thông điệp rất sâu sắc. Trước đây, gần như nhà nào ở Huế mỗi dịp Tết đến cũng có một bộ liễn. Nhưng khoảng 15–20 năm nay, khi nghệ nhân cuối cùng mất đi, mộc bản thất lạc hết, thì dòng tranh này cũng bị thất truyền. Việc phục dựng, với chúng tôi, không chỉ để mang lại sắc xuân cho Huế mà là khôi phục một dòng tranh in từ mộc bản của Việt Nam – điều mà rất nhiều người yêu văn hoá dân gian đang mong chờ.”
Thách thức lớn nhất trong hành trình phục dựng ấy, không phải là thời gian hay kinh phí, mà là tư liệu. Khi trở lại làng Chuồn – nay là làng An Truyền – hầu như không còn dấu tích nghề cũ. Những bộ liễn từng treo trong mỗi nếp nhà chỉ còn lác đác trong ký ức người già và vài bức ảnh mờ nhạt trên báo chí cũ.
Để “làm sống lại” những con chữ đã mất, Ngô Quý Đức đã tìm đến nghệ nhân khắc mộc bản Phạm Công Đạt, người làng Thanh Liễu – cái nôi khắc mộc bản gắn với triều Nguyễn và nhiều di sản thế giới. “Khó khăn đầu tiên là tư liệu, vì Liễn làng Chuồn đã thất truyền gần 20 năm. Khi chúng tôi quay lại làng thì gần như các bộ ván đều mất hết, bản in chỉ còn qua báo chí và hình ảnh cũ. Phải mất hàng tháng điền dã, hỏi từng trưởng thôn, từng gia đình, rất may là còn một nhà còn giữ được một bộ liễn treo trên bàn thờ. Có tư liệu rồi thì lại phải vẽ phục chế, số hoá, phác thảo lại vì hình ảnh không còn sắc nét. Sau đó mới đến khâu chuẩn bị gỗ thị và khắc theo đúng kỹ thuật dao ngang truyền thống của làng Thanh Liễu.”
Từng nét chữ, từng đường khắc được phục dựng không chỉ bằng tay nghề, mà bằng sự am hiểu sâu sắc về văn hoá Huế. Bởi Liễn làng Chuồn không giống những dòng tranh dân gian khác. Đây là tranh chữ, chữ rất lớn, treo ở không gian trang trọng nhất – bàn thờ tổ tiên. Trong mỗi chữ Phúc, mỗi câu đối, là cả một thế giới quan của người Việt: từ triết lý sống, đạo hiếu, đến khát vọng mưa thuận gió hoà, gia đình viên mãn.
Anh Phạm công Đạt, nghệ nhân khắc mộc bản làng Thanh Liễu tâm huyết với nghề do cha ông truyền lại. |
Anh Phạm Công Đạt tiếp tục cho biết: “Điều đặc trưng của Liễn làng Chuồn là gắn liền với chữ nghĩa, bởi đây là vùng đất kinh đô rất hiếu học. Chữ Phúc trong liễn không chỉ là chữ mà còn hội tụ cả tứ linh – Long, Ly, Quy, Phượng – cầu cho đủ đầy, may mắn, tốt lành. Bên cạnh đó là câu đối ‘Thiên Địa Tam Dương Thái – Càn Khôn Vạn Sự Xuân’, mang ý nghĩa trời đất khang thái, vạn sự khởi đầu từ mùa Xuân. Những chữ này treo lên ngày Tết sẽ mang lại vượng khí, tài lộc và xua đi điều xấu.”
Hành trình tìm lại giá trị tinh hoa của liễn làng Chuồn gồm ba giai đoạn. Đầu tiên là việc phục dựng nguyên bản dựa trên các tư liệu còn sót lại, tạo ra bộ liễn chân thực nhất. Sau đó, nhóm anh Đức mở rộng các thiết kế mẫu liễn mới, phù hợp cho từng nếp nhà Việt. Cuối cùng, mục tiêu quan trọng nhất là việc trao truyền, tìm thế hệ kế thừa.
Để tìm lại đúng chất xưa của tranh liễn, nhóm của anh Ngô Quý Đức và anh Phạm Công Đạt đã kỳ công pha chế loại mực đặc biệt gồm sự kết hợp giữa Chu sa (tạo sắc đỏ thắm, trấn trạch) và Hoa hiên (tạo sắc cam trầm mặc, vương giả) chứ không dùng mực in công nghiệp cho các bản in. Hỗn hợp này được phết lên mặt gỗ thị, rồi in thắm lên nền giấy dó mỏng dai.
Nhóm dự án đã ra mắt Bộ liễn Ngũ sự và hình tượng “Hạc ngự lưng Quy”. Vừa qua, lần đầu tiên tại Hà Nội, công chúng có cơ hội chiêm ngưỡng phiên bản hoàn chỉnh nhất của Liễn làng Chuồn, là bộ liễn gồm 5 tấm (Ngũ sự). Khác với bộ 3 tấm (Tam sơn) ra mắt trước đó tại Huế, phiên bản này được bổ sung hai bức tranh “Hạc ngự, lưng Quy.” Hình tượng này được nhóm chắt lọc từ di sản trang trí tại cổ tự Hà Trung (Huế), thể hiện tư duy kế thừa và tiếp biến của dự án: vừa tôn trọng cốt cách xưa, vừa thổi hồn sáng tạo để phù hợp với không gian thờ tự và trưng bày bề thế ngày nay. Khi tờ giấy dó được nhẹ nhàng bóc tách khỏi mặt gỗ, những họa tiết Tứ linh (Long - Lân - Quy - Phụng) hiện lên sắc nét đến từng chi tiết nhỏ nhất với thần thái uy nghi của rồng, phượng, nét bay bổng của chữ Phúc, sự cân đối trang nghiêm của đôi câu đối “Thiên địa tam dương thái - Càn khôn vạn sự xuân", có nghĩa là Trời đất luôn khang thái, vạn sự khởi đầu từ mùa Xuân.
Các bản in được trưng bày trong buổi ra mắt tại Hà Nội vừa qua |
Với nhóm dự án, việc phục dựng Liễn làng Chuồn mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều nhóm hướng tới là đưa nghề trở lại với cộng đồng, để người dân địa phương có thể tiếp nối và sống cùng di sản.
Anh Ngô Quý Đức chia sẻ: “Hy vọng trong thời gian tới, chúng tôi sẽ truyền lại nghề này cho chính người dân làng Chuồn để họ trực tiếp làm nghề. Việc phục dựng không chỉ là làm ra vài bộ tranh, mà là tạo ra cái cốt – tức là mộc bản – để từ đó nghề có thể sống lại. Trong năm 2026, chúng tôi sẽ tiếp tục phục dựng thêm các bộ liễn khác và tiến tới khôi phục cả dòng tranh Tây Hồ – một dòng tranh Huế đã mai một hơn 80 năm. Không chỉ gìn giữ, mà phải phát huy, để tranh dân gian có thể tồn tại trong những không gian sống hôm nay.”
Từ những tấm ván gỗ thị, những con chữ cổ, đến sắc đỏ Hồng Điều rực rỡ ngày Xuân, Liễn làng Chuồn đang dần trở lại, không phải như một hoài niệm đóng khung trong bảo tàng, mà như một di sản sống, được chạm, được in, được treo trong những ngôi nhà mới. Từ đó khơi dậy sự phồn thịnh của các dòng tranh dân gian nhưng trong một dạng thức mới, được công chúng đón nhận như một phần của đời sống đương đại, trong khi vẫn giữ gìn được bản sắc, vốn quý của tinh hoa nghề thủ công và tâm hồn Việt bao đời nay.