Chất thiền trong thơ Trần Lê Khánh

(VOV5) -  Trần Lê Khánh làm thơ là để tỏ bày cách sống, đem đến “một sự giao tiếp”, “một sự chìm đắm”, gần như không thể bóc tách rõ ràng.

Nghe âm thanh phỏng vấn tại đây:

Coi thơ là thước đo nội tâm, là năng lực tâm thức trên con đường thiền: “Kiếp này rồi kiếp nữa thôi/ là hết quá khứ của mười ngón tay”, Trần Lê Khánh làm thơ là để tỏ bày cách sống, đem đến “một sự giao tiếp”, “một sự chìm đắm”, gần như không thể bóc tách rõ ràng. Nhưng chính sự tối giản trong thơ anh cũng luôn khơi gợi nhiều sự tiếp nhận. Sau đây, chúng ta sẽ cùng nghe PGS. TS, nhà phê bình văn học Hoàng Kim Ngọc bàn về tính thiền trong thơ Trần Lê Khánh.
Chất thiền trong thơ Trần Lê Khánh - ảnh 1PGS-TS Hoàng Kim Ngọc - Ảnh: van.vn

PV: Vâng, thưa Phó giáo sư Tiến sĩ Hoàng Kim Ngọc, thơ của anh Trần Lê Khánh thường gắn với yếu tố thiền. 

Giữa thiền của Trần Lê Khánh và thiền của thơ văn Lý Trần mà chúng ta thường hay nhắc tới, có cái sự giao thoa và khác biệt như thế nào?

PGS TS Hoàng Kim Ngọc: Thơ thiền Lý Trần và thơ thiền của Trần Lê Khánh tuy có sự giống nhau về tinh thần thiền đạo nhưng mà lại khác biệt rõ rệt về bối cảnh, về tư tưởng và về cách thể hiện.

Thơ thiền Lý Trần là tiếng nói của các nhà sư nhằm chuyển tải giáo lý nhà Phật một cách trực tiếp. Còn thơ thiền của Trần Lê Khánh là tiếng nói của một người thế tục, của một người không xuất gia, của một trí thức thời hiện đại, làm thơ nhằm chuyển tải giáo lý nhà Phật một cách gián tiếp.

Nếu như thơ thiền Lý Trần là sự ung dung tự tại của các bậc giác ngộ thì thơ Thiền Trần Lê Khánh lại là sự trầm tư, khắc khoải của người trí thức đi tìm tri kỷ. Hình ảnh thơ ở trong thơ Thiền Lý Trần là những hình ảnh rất là quen thuộc, rất là ước lệ như tùng, cúc, trúc, mai, sương… Hình ảnh trong thơ của Trần Lê Khánh lại rất gần gũi, rất đời thường. Và anh ấy rất thích dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ hay những đồ vật bé nhỏ, ví dụ như là con kiến lửa, con muỗi nhỏ đánh hơi giọt đào, con giun đất đỏ, con dế, con nhện qua kiếp tử tù, con bướm chân trần lấm hoa, cái cúc áo hay là chiếc lá…thế nhưng lại biểu tượng cho sự tĩnh lặng, an nhiên vô ngã, giải thoát. Thơ thiền của Trần Lê Khánh không hề dễ hiểu tí nào cả, đòi hỏi người đọc phải cảm nhận và đồng sáng tạo để giải mã nó, dựa trên tri thức nền của chính bản thân người đọc, và dựa vào cái khả năng liên tưởng của chính người đọc.

Chất thiền trong thơ Trần Lê Khánh - ảnh 2Nhà thơ Trần Lê Khánh - Ảnh: Báo Đại đoàn kết

PV: Ở góc độ nhà phê bình Hoàng Kim Ngọc vừa nói, chúng ta cũng có thể liên tưởng tới một thể thơ khác, cũng rất là nổi tiếng của Nhật Bản, là thể thơ Haikư. Vớii sự ngắn gọn của thơ Trần Lê Khánh cũng rất dễ khiến cho độc giả có những sự liên tưởng như vậy. Vậy ở góc độ một người nghiên cứu, một người phê bình chuyên sâu, chị có thể lý giải hoặc cắt nghĩa một chút?

PGS TS Hoàng Kim Ngọc: Haikư thường có 17 âm tiết và bao giờ cũng có một từ gọi là “quý ngữ” để chỉ mùa, gợi ra có thể là mùa đông, mùa xuân, mùa thu hay mùa hạ. Thế còn thơ của Trần Lê Khánh ngắn gọn, nhưng là kiểu thơ haikư của Việt Nam, là Việt hóa. Ví dụ bài thơ rất ngắn trong ngàn bài thơ khác, tên là “Ngộ”, chỉ có ba dòng và chỉ có 12 chữ.  “Khoảng cách giữa tôi và Phật /bằng cỡ Tâm không/ của Ngài.” Thế thì khoảng cách ở đây không phải đo bằng không gian mà bằng “Tâm không”- một khái niệm cốt lõi của Phật học. Ranh giới giữa phàm nhân và giác ngộ chỉ nằm ở sự trống rỗng của Tâm. Khi nào Tâm chúng ta không còn vọng niệm nữa thì khoảng cách, sự khác biệt giữa con người và Phật sẽ tan biến. Và lúc đó chúng ta lại thành Phật. 

Liên quan tới những loại thơ ngắn, thường thường nó kiệm lời, mỗi người sẽ hiểu theo một cách khác nhau dựa trên khả năng liên tưởng của người đó hoặc tri thức nền của người đó.

PV: Dạ, vâng, cũng rất nhiều người nhắc tới một yếu tố khác: Đấy là việc nhà thơ Trần Lê Khánh Anh hay sử dụng thể thơ lục bát. Với thể thơ rất quen thuộc với người Việt, gần như ai cũng có thể tự làm một đôi câu, Trần Lê Khánh đã có sự đổi mới và sáng tạo như thế nào?

PGS TS Hoàng Kim Ngọc: Tôi định danh thơ của Trần Lê Khánh là thơ Lục bát Phật tính hoặc là thơ Phật tính. Không phải chỉ trong lục bát của anh ấy mới có Phật tính mà cả những loại thể thơ khác nữa.

Tại sao tôi lại định danh như thế? Là bởi vì trong tập thơ Đồng, dấu ấn Phật giáo Phật tính cực kỳ đậm đặc, có dáng dấp của thiền học hiện đại và triết học hiện đại. Sự giao thoa thiền - triết này tạo nên một giọng thơ rất độc đáo. Nó không cầu kỳ về hình thức nhưng lại luôn luôn gợi mở chiều sâu suy tưởng. Thơ của bạn ấy rất là kiệm lời, nhưng mà lại chứa đựng cái tinh thần, cái triết lý Phật học rất sâu sắc. Nó gợi nhớ đến những kệ thiền đã nuôi dưỡng tâm hồn người Á Đông.

Thơ của Trần Lê Khánh có rất nhiều triết lý nhà Phật, thuật ngữ nhà Phật, biểu tượng nhà Phật này. Triết lý nhà Phật liên quan tới vô thường, tới luân hồi, khổ đau, giải thoát, giác ngộ. Còn thuật ngữ nhà Phật, dùng rất nhiều cõi ta bà, cõi u minh …rồi ba kiếp, muôn kiếp, bao nhiêu kiếp phong ba; thế rồi kiếp nào kiếp nữa, kiếp này, tiền kiếp… Và cũng sử dụng rất nhiều biểu tượng Phật giáo: có Phật, bụt, sư, chùa, cây bồ đề, kinh kệ  vv..

Yếu tố “Phật tính” ở đây phải hiểu thế này: Trần Lê Khánh không chỉ dùng yếu tố Phật giáo như một chất liệu, mà nó còn là sự gợi mở, biểu đạt cho tính giác ngộ và những Phật tính trong đời sống thường ngày.

Muốn định danh một tác giả thơ nào đó, chúng ta phải dựa trên cái gì? Phải dựa trên chủ đề, đề tài và tần số xuất hiện một trường từ vựng ngôn ngữ nào đó mà tác giả ưa dùng. Ví dụ, chúng ta có thể định danh thơ của Nguyễn Bính là lục bát Chân quê, hoặc định danh thơ của Nguyễn Phúc Lộc Thành tôi định danh là Lục bát thiên tính nữ. Bởi vì hình ảnh người mẹ, người chị, người nữ trở đi trở lại rất nhiều trong thơ của Nguyễn Phúc Lộc Thành. Hoặc Đỗ Anh Vũ cũng gọi thơ của Trương Xuân Thiên là lục bát Liêu trai ma mị, tôi cũng rất đồng ý với ý kiến này. Khi định danh được một tác giả, nghĩa là tác giả đó đã có phong cách riêng.

Dạ, vâng xin cảm ơn nhà phê bình Hoàng Kim Ngọc!

Bắt đầu sáng tác thơ từ năm 2015, nhà thơ Trần Lê Khánh đã khiến nhiều bạn văn và bạn đọc chú ý khi giành được nhiều giải thưởng văn chương danh giá như Giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2021, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022 và năm 2025, Giải Văn học dịch Cliff Becker... Từ năm 2016, anh đã ra mắt nhiều tập thơ như “Lục bát múa”, “Dòng sông không vội”, “Ngày như chiếc lá”, “Giọt nắng tràn ly”, “Xứ”, “Ngàn bài thơ khác”… và gần đây nhất là “Đồng – Tuyển tập Xứ 2” (do Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam cùng NXB Hội Nhà văn ấn hành”. 
Tin liên quan

Phản hồi

Các tin/bài khác