Giữ hồn làng Việt qua sân khấu rối nước Đào Thục

(VOV5) - Làng Đào Thục (xã Thư Lâm, Đông Anh) vẫn bền bỉ gìn giữ múa rối nước – loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc đã tồn tại hơn 300 năm.

Cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km, làng Đào Thục, nay thuộc xã Thư Lâm, Đông Anh, vẫn lặng lẽ gìn giữ một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc: múa rối nước. Trên sân khấu mặt nước khắp mọi miền đất nước những con rối gỗ mộc mạc đã theo chân những nghệ nhân tài ba của làng kể câu chuyện mang đậm bản sắc truyền thống văn hoá Việt Nam suốt hơn ba thế kỷ qua.

Giữ hồn làng Việt qua sân khấu rối nước Đào Thục - ảnh 1Rối nước Đào Thục nét đẹp văn hoá tại các sự kiện, lễ hội dân gian.

Theo các tư liệu lịch sử và văn bia của làng, nghề múa rối nước ở Đào Thục có từ thời Lê Trung Hưng. Người đặt nền móng cho loại hình nghệ thuật này là một vị quan triều Lê – người đã mang tinh hoa rối nước từ chốn cung đình và nhiều vùng đất khác về truyền dạy cho dân làng. Nhắc đến lịch sử ấy, nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị – Trưởng phường rối nước Đào Thục là người hiểu rất rõ về nguồn cội nghề rối của quê hương mình: “Múa rối nước Đào Thục ra đời cách đây hơn 300 năm, được ông tổ Đào Đăng Khiêm (tên thật là Nguyễn Đăng Vinh). Khi đỗ Tiến sỹ thì ông được bổ nhiệm làm quan tổng nội giám của triều đình nhà Hậu Lê. Sau khi về quê, ông mang nghệ thuật múa rối nước đã thu thập ở khắp nơi về dạy dân làng Đào Thục”.

Trải qua hàng trăm năm, rối nước Đào Thục cũng có những giai đoạn thăng trầm. Có thời điểm, phường rối gần như gián đoạn vì chiến tranh và biến động đời sống. Phải đến những thập niên 70–80 của thế kỷ XX, nghề rối mới từng bước được khôi phục nhờ sự kiên trì của các nghệ nhân trong làng. Đến nay, rối nước Đào Thục không chỉ biểu diễn phục vụ lễ hội làng, mà còn thường xuyên góp mặt tại các sự kiện văn hóa lớn, các không gian di sản, bảo tàng, trở thành một “địa chỉ văn hóa” quen thuộc với công chúng.

Với nhiều nghệ nhân, nghề rối không đến từ sự lựa chọn, mà đến rất tự nhiên, từ ký ức tuổi thơ. Nhìn các bậc cha anh chế tác rối, theo chân phường rối đi biểu diễn khắp nơi, tình yêu với nghề cứ thế lớn dần. Nghệ nhân Nguyễn Văn Phi là một trong những người như vậy: “Khi hơn 10 tuổi tôi đã được xem chế tác, tạo hình rối… Tôi thầm ao ước một ngày nào đó khi lớn lên phải xin vào phường rối để được làm… Loại hình nghệ thuật rối nước rất được Đảng và Nhà nước và quần chúng ủng hộ”.

Giữ hồn làng Việt qua sân khấu rối nước Đào Thục - ảnh 2Nghệ nhân Nguyễn Văn Phi. Ảnh: TTX

Để một con rối có thể chuyển động linh hoạt trên mặt nước, khâu chế tác đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Từ việc chọn gỗ, xử lý chất liệu, đến tạo hình và lắp đặt cơ cấu bên trong, tất cả đều tuân theo những kinh nghiệm được truyền lại qua nhiều thế hệ. Nghệ nhân Nguyễn Văn Phi chia sẻ cụ thể hơn về quy trình này.

“Để làm ra con rối như quy định của phường Đào Thục và theo các cụ truyền dạy lại, chúng tôi sử dụng gỗ sung. Thứ nhất, cây sung thường mọc ở bờ ao hoặc trong vườn của các hộ nông dân. Thứ hai, gỗ sung đảm bảo cho chất lượng lượng của con rối, vừa bền khi gặp nước rồi phơi khô không bị vỡ, vừa nhẹ và xốp khi biểu diễn sẽ nổi. Thứ ba, các cụ chọn gỗ sung cũng vì nghĩa của từ “sung”. Làm con rối gồm nhiều công đoạn. Sau khi làm phần thô thì phải bổ ra, lắp hệ thống máy bên trong. Quy trình các cụ để lại là khi làm con rối xong bao giờ cũng phải phơi khô. Sau đó phủ 1 lớp sơn, tự lớp sơn này hút vào trong do đó đảm bảo chất lượng của con rối. Nước sơn thứ hai bắt đầu tô các màu theo nhân vật, rồi lại đem ra phơi. Lớp thứ ba là lớp sơn bóng để khi xuống nước không bị ngấm và không bị nhanh bạc màu. Để hoàn thiện một con rối phải mất từ 7-10 ngày”.

Sau khi hoàn thiện phần thô, con rối tiếp tục được “thổi hồn” qua những nét vẽ trên khuôn mặt. Mỗi nhân vật xuất hiện trên sân khấu đều mang một tính cách, một số phận riêng, đòi hỏi người nghệ nhân như chị Đinh Thị Minh phải chăm chút, để ý tới từng chi tiết: “Lúc vẽ cho con rối phải hình dung các tích trò biểu diễn. Ví dụ cô Tiên phải có khuôn mặt hiền dịu, đôi mắt sắc nét, lông mày đẹp, má phấn, môi son. Chú Tễu mặt lại phải ngộ nghĩnh, cười tươi”.

Giữ hồn làng Việt qua sân khấu rối nước Đào Thục - ảnh 3Các nghệ nhân đứng ở bên trong thủy đình điều khiển những con rối. Ảnh: nhandan.vn

Đằng sau những tràng cười và sự thích thú của khán giả là sự vất vả của các nghệ nhân khi phải ngâm mình hàng giờ dưới nước, trong mọi điều kiện thời tiết. Trước mỗi buổi diễn, công tác chuẩn bị luôn được thực hiện rất kỹ lưỡng: “Khi biểu diễn nếu trời rét, trước kia chúng tôi phải uống nước mắm cho ấm người nhưng bây giờ có bộ quần áo chuyên dụng nên không ướt người. Trước khi xuống nước phải kiểm tra lại con rối một cách cẩn thận trước khi biểu diễn”.

Hiện nay, phường rối nước Đào Thục có khoảng 40 thành viên. Dù lực lượng biểu diễn chủ yếu vẫn là người trung niên và cao tuổi, nhưng phường rối đang nỗ lực đào tạo lớp trẻ để nối dài mạch nghề. Nghệ nhân Đinh Thế Văn, người gắn bó cả cuộc đời với rối nước luôn coi việc truyền nghề là trách nhiệm lớn nhất của mình.

Đối với rối nước Đào Thục, không những tôi mà rất nhiều người từ xưa đến nay đều rất hâm mộ, rất ham thích nền văn hoá này. Do vậy, chúng tôi noi gương cha ông, cố gắng duy trì nghề rối từ đời này qua đời khác. Rối Đào Thục phát triển như ngày nay do sự kế thừa tốt của con cháu. Tôi rất tâm huyết với nghề rối nước này. Vì vậy sau khi nghỉ hưu, tôi rất trăn trở làm thế nào để rối nước Đào Thục phát triển, và đi xa được. Do vậy tôi luôn theo sát phường rối, dạy bảo lớp trẻ để kế nghiệp được truyền thống rối nước ở Đào Thục. Lớp trẻ bây giờ rất nhiệt tình, say sưa tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo”.

Trên mặt ao làng Đào Thục hay ở các sân khấu nước khắp mọi miền đất nước những con rối gỗ vẫn lặng lẽ kể câu chuyện của làng quê Bắc Bộ, câu chuyện về lao động, về văn hóa, về sự tiếp nối bền bỉ qua thời gian. Hơn 300 năm trôi qua, múa rối nước Đào Thục không chỉ tồn tại như một di sản, mà đang tiếp tục sống, tiếp tục chuyển động, cùng nhịp thở của đời sống hôm nay.

Tin liên quan

Phản hồi

Các tin/bài khác